Định và Tuệ

chánh văn, bài giảng liên quan đến phương pháp tu thiền

Định và Tuệ

Postby voquangnhan on Thu Nov 19, 2009 1:55 pm

Kính,

Xin cảm ơn WEB Master (Không biết còn wen hông??? -- "just kidđing chị Tan Cho" nhe) và chị HN.

Ở đây vì đề tài thiền chỉ và quán... Trong sách Đại Pháp Lamrim Chenmo (LRCM) của tổ Tsongkhapa (Tông Khách Ba) thì dạy theo thứ tự của lục độ ba-la-mật-đa. Tức là Định sẽ tương ứng với phần tu "thiền chỉ" và tuệ sẽ tương ứng với phần tu tập "thiền quán".

LĐ được phép của ngài Rinpoche Tsering Phuntsok (bộ tưởng Tôn Giáo Tây Tạng) và "specific arrangement" của nhà xuất bản SnowLion. Cho nên xin mạn phép gửi đăng lên đây phần "Định". Dĩ nhiên, tài liệu dù có đã có hiệu đính sơ lược (chưa phải là final) nên chắc vẩn còn nhiều lỗi -- xin bỏ quá --. Chính là muốn đem lại ích lợi cho anh chị nào đang tu tập thiền vì thấy giáo pháp rất hay và rất hữu hiệu. Rất tiếc là khi cut & past các chú chích đều bị cắt. LĐ chỉ xin đặt sơ lươc. Có anh chị nào thấy sai sót xin chỉ dạy thêm.

LĐ sẽ trình bày từng chương (gồm 6 chương) về định -- Phần Tuệ hiện giao cho 1 đạo hữu khác dịch giúp nên chưa có để trình bày :scratch: :

Con kính lạy chư Tam Bảo, kính xin phù trợ cho đề án dịch này thành công và đem lại mọi thành tựu cho chúng sinh.
------------------------------------------------
Great Treatise on the Stages of the Path vols 1-3. SnowLion. Copyright 2002 Tibetan Buddist Learning Center.
------------------------------------------------
Đại Pháp về các Giai Trình của Giác Ngộ Tập 3

Phần I Định từ thiền

1. Định và Tuệ

2’’ Đặc Biệt cách rèn luyện hai Ba-la-mật sau cùng

(a) Những lợi ích của việc nuôi dưỡng định và tuệ
(b) Làm sao để định và tuệ bao gồm tất cả mọi trạng huống của sự tập trung thiền
(c) Bản chất của định và tuệ
(d) Lý do phải nuôi dưỡng cả hai
(e) Làm thế nào để đạt một cách chắc chắn về thứ tự của chúng

---------------------------
Các đại sư cao quý đều có [tâm] đại từ bi; Con cuối đầu đảnh lễ dưới chân các ngài..

2’’ Đặc Biệt cách rèn luyện hai Ba-la-mật sau cùng

Rèn luyện hai Ba-la-mật sau cùng, một cách đặc biệt, là cách để nuôi dưỡng định và tuệ từ thiền vì định và tuệ được bao hàm một cách tương ứng trong các ba-la-mật về sự ổn định trong thiền và trong trí tuệ. Mục này này có các phần:

1. Các lợi ích của việc nuôi dưỡng định và tuệ
2. Chỉ ra rằng hai định và tuệ bao gồm tất cả mọi trạng huống của sự tập trung thiền
3. Bản chất của định và tuệ
4. Lý do phải nuôi dưỡng cả hai
5. Làm thế nào để đạt một cách chắc chắn về thứ tự của chúng
6. Làm thế nào để luyện tập cho mỗi kỹ năng (chương 2-26)

(a) Những lợi ích của việc nuôi dưỡng định và tuệ
Tất cả các phẩm chất tốt đẹp thế tục và xuất thế của Đại thừa và Tiểu thừa đều là kết quả của định và tuệ. Kinh Giải Thâm Mật có ghi :

Này Di-lặc, ngươi nên biết rằng tất cả những phẩm hạnh thế tục và xuất thế của các Thanh Văn, Bồ-tát, hay Như Lai đều là kết quả của định và tuệ.

Vấn: Có phải hay không định và tuệ là các phẩm hạnh đạt đến được trong dòng tâm thức của các hành giả thông qua thiền? Sao lại có thể xảy ra tất cả các phẩm hạnh là kết quả từ cả hai?

Đáp: Như sẽ được giảng giải, định và tuệ thực tế là những phẩm hạnh trong dòng tâm thức của những ai đạt được chúng qua thiền, cho nên tất cả các phẩm hạnh của Đại thừa và Tiểu thừa không là kết quả do bởi chúng. Tuy vậy, sự tập trung mà ít nhất có tính nhất tâm lên một đối tượng thiện đức được xem là định; những chánh kiến phân biệt được một đối tượng là ước lệ hay tối hậu được xem là trí tuệ. Đây là ý mà kinh văn nêu rằng tất cả những phẩm hạnh của tam thừa là kết quả từ định và tuệ, cho nên không có sự mâu thuẩn.

Với cùng một hàm ý, Kinh Đại Thừa Dưỡng Tín nêu :

Thiện Nam Tử, danh mục này là thông điệp cho ngươi rằng tín tâm trong Đại thừa của các bồ-tát -- và thật ra, tất cả các pháp do Đại thừa -- đều đến từ việc quán chiếu đúng về các thực tính và ý nghĩa (tức là quán --ND) với một tâm thức không phân tán (tức là chỉ -ND).

Tâm thức không phân tán là sự nhất tâm về tinh thần, tức là định tính, trong khi sự quán chiếu đúng về các thực tính và ý nghĩa là trí tuệ sáng suốt, tức là tuệ giác tính. Do đó, ngươi phải thành tựu được tất cả phẩm hạnh của nhị thừa thông qua (1) duy trì sự phân tích (hay quán chiếu - ND) với trí tuệ sáng suốt (trí bát-nhã -ND) và (2) nhất tâm tập trung lên đối tượng của thiền. Ngươi không thành tựu được chúng qua thực hành phiếm diện của thiền quán hoặc thiền chỉ.

Cũng thế, Kinh Giải Thâm Mật nêu :

Một khi hành giả đã phát triển Tuệ
Và định, thì họ thoát khỏi
Ràng buộc của các xu hướng sai lạc
Và của sự lệ thuộc vào các biểu hiệu


Ở đây, “các xu hướng sai lạc” là các thiên hướng nội tại tiềm ẩn trong dòng tâm thức của ngươi mà có thể sinh ra sự tăng trưởng các cấp độ của những nhận thức sai lạc; “biểu hiệu” là các luyến chấp đang xảy ra tới các đối tượng sai lạc, mà nó nuôi dưỡng các thiên hướng nội tại đó. Trong Bát Nhã Ba-la-mật-đa luận của ngài Ratnakāraśānti dạy rằng tuệ giác xoá tan được điều trước (các xu hướng sai lạc – ND) trong khi định xoá bỏ được điều còn lại (các biểu hiệu –ND) .

Những điều này là các lợi ích thuộc về “định” và “tuệ”, nhưng ngay cả khi các thuật ngữ không được dùng đến, thì vẩn có các mệnh đề về các lợi ích của sự bình ổn thiền và trí tuệ. Hãy nhận thức rằng các mệnh đề này mô tả các lợi ích của định và tuệ.

(b) Làm sao để định và tuệ bao gồm tất cả mọi trạng huống của sự tập trung thiền

Những cành, lá, hoa và trái của một cây là không có giới hạn, nhưng điểm cốt lõi là ở chỗ chúng đều có cùng một gốc. Như ví dụ này, định và tuệ là cốt lõi tối thắng ở chỗ chúng thu thập tất cả điều mà đức Phật nói về các trạng thái vô hạn của thiền tập trung trong Đại thừa, Tiểu thừa. Kinh Giải Thâm Mật nhận định :

Biết rằng định và tuệ bao gồm tất cả các khía cạnh của các trạng thái thiền tập trung mà Thế Tôn đã thuyết với các Thanh Văn, bồ-tát, và Như lai

Do vậy, vì những ai dự định đạt được thiền tập trung không thể lĩnh hội hết một số vô lượng các sắc tướng khác nhau, họ nên biết rõ và luôn dựa trên những kỹ năng để duy trì định và tuệ, dẫn xuất của tất cả các sự tập trung. Trong phần thứ ba Các Giai Trình của Thiền của ngài Liên Hoa Giới có thuyết :

Mặc dù Thế Tôn tại đó đã thuyết về các sự tập trung bồ-tát khác biệt nhau là bất khả tư lường, thì định và tuệ bao trùm tất cả chúng. Vậy nên ta chỉ thuyết bàn về đạo pháp hợp nhất định và tuệ.

Và, như tuyên thuyết trong Các Giai Trình của Thiền phần thứ nhì của Liên Hoa Giới nêu rõ :

Vì cả hai bao gồm tất cả các trạng thái của thiền tập trung, tất cả các ngươi chắc chắn tại mọi thời gian đều nên dựa vào định và tuệ.

(c) Bản chất của định và tuệ

Khi đề cập bản chất của định, kinh Giải Thâm Mật nêu :

Trong khi an trú tại nơi tĩnh mịch và hướng sự chú ý của mình vào nội tâm, ngươi chỉ chú mục đến các đề tài mà ngươi đã quán chiếu một cách cẩn thận. Sự lưu tâm của ngươi được tiến hành một cách tinh thần qua việc chú tâm liên tục vào bên trong. Trạng thái của tâm do ngươi thực hành điều trên, và thường xuyên lưu giữ theo cách này, và ở trong trạng thái mà cả tinh thần lẫn thể chất đều nhu hoạt được gọi là “định”.

Điều này có nghĩa là ngươi chọn một đối tượng thích hợp nào đó làm đối tượng của thiền, chẳng hạn như ngũ uẩn, mà đã được xác định là một đề mục trong Thập nhị bộ kinh . Với một sự toàn tâm và tỉnh giác không phân tán, hành giả tập trung sự chú tâm vào đối tượng và giữ nguyên sự chú tâm đó liên tục, sao cho tâm thức của ngươi trở nên ổn định tương hợp với chính đối tượng của thiền. Khi ngươi tạo được hạnh phúc và hỉ lạc của sự nhu hoạt về thể chất và tinh thần, thì trạng thái tập trung thiền của hành giả trở nên định. Điều này chỉ xảy đến thông qua việc duy trì sự chú ý vào nội tâm của ngươi, không phân tán khỏi đối tượng của thiền; điều đó không tùy thuộc vào việc hiểu biết thực chất của sự việc.

Như bản chất của tuệ giác, đoạn kinh trên nêu ra :

Sau khi ngươi đã đạt được sự nhu hoạt về tinh thần và thể chất, hãy giữ trạng thái đó và loại bỏ các yếu tố tinh thần khác. Sau đó, thiền giả chú trọng vào bên trong và với nhận thức thấu suốt vào hình ảnh tinh thần mà đó vốn là phạm vi của sự tập trung thiền lên các chủ đề ngươi đã quán chiếu đến. Với sự liên hệ tới các hình ảnh vốn là phạm vi của sự tập trung như thế, sự phân biệt bất kì về ý nghĩa của các chủ đề đó, hay là sự phân biệt hoàn toàn, sự khảo sát xuyên suốt, sự quán chiếu xuyên suốt, sự trì nhẫn, sự mong ước, sự phân biệt về các chi tiết, quan điểm, hay ý tưởng được gọi là “tuệ giác”. Do đó bồ-tát thiện xảo trong tuệ giác. [472]

Được kể lại rằng sư Trung Hoa Ha-shang (Hva-shang -- dịch nghĩa là "Hoà Thượng"), sau khi đọc thấy lời giải thích rất rõ ràng và không chối cãi được rằng tuệ giác là trí tuệ thấu suốt, đã la lên: “Ta không biết làm thế nào mà cái này có thể là một bộ kinh!” và đá nó đi. Ông ta làm thế vì khẳng định của kinh này đã không phù hợp với luận điểm của ông ta rằng bởi vì tất cả các niệm về mọi thứ sẽ dính líu đến sự nắm bắt các biểu hiệu, ngươi nên loại trừ trong thiền và trí tuệ thấu suốt theo ý nghĩa sâu sắc này bằng cách không đem bất kì điều gì vào trong tâm thức. [Ông cho rằng] Các tiếp cận thế này có rất nhiều bám chấp .

Trong đoạn kinh đó, “sự phân biệt” nghĩa là việc nhận ra sự phân hóa của các hiện tượng (hay các pháp –ND) thế tục; “sự phân biệt hoàn toàn” nghĩa là việc nhận ra bản chất [tối hậu] thật sự của nó. Thánh giả Vô Trước giải thích rằng “sự khảo sát xuyên suốt” là khi ý niệm tại chỗ của trí tuệ nắm bắt một biểu hiệu; “sự quán chiếu xuyên suốt” là sự thẩm tra đúng đắn. “Sự khảo sát” nghĩa là khảo sát thô thiển; “quán chiếu” nghĩa là phân tích chi tiết. Sự nắm bắt ở đây không phải là một khái niệm của thực hữu, mà đúng hơn là sự phân biệt chính xác các chi tiết của một đối tượng. Theo đó, có cả sự khảo sát và sự phân tích về bản chất thực tại lẫn sự phân hóa của các pháp.

Ứng với kinh Giải Thâm Mật, kinh Bảo Vân (Ratna-megha-sūtra) cũng nêu rõ:

Định là sự chú ý nhất tâm; tuệ là sự thấu suốt đúng đắn .

Cũng thế, bồ-tát Di-lặc có dạy trong Đại Thừa Kinh Trang Nghiêm Luận (mahāyāna-sūtralaṅkāra-kārikā) :

Biết như lộ trình của định
Là việc viết gọn tên của một hiện tượng ;
Hiểu như lộ trình của tuệ
Là quán chiếu các ý nghĩa của nó


Và ,

Dựa trên một vững chãi chân thật
Qua việc hướng sự chú ý của hành giả vào tâm mình
Và qua sự phân biệt các pháp,
Hiện hữu định và tuệ từ thiền


Điều này khẳng định rằng sự bền vững của tâm trên cơ sở tập trung chân chính là định và trí tuệ phân biệt các pháp là tuệ giác. [473] Vì các lời chú giải này có cùng hiệu lực như những gì các kinh trên đề cập, sẽ không thích đáng nếu giải thích các đoạn kinh trên theo một ý nghĩa khác.

Trong Bồ-tát Địa luận ngài Vô Trước cũng có dạy :

Với tâm thức của hành giả hướng đến đối tượng của thiền một cách xác định mà đơn thuần không biểu tả sự vật hay ý nghĩa của nó, một nhận thức chăm chú không có tất cả sự suy diễn rộng ra, không có tất cả sự phân tán nào lên đối tượng bất kì của thiền. Sau đó “trạng thái định do thiền” tồn tại kể từ thời điểm mà sự tập trung tư tưởng nội tại bền vững hóa và dồn chú ý vào một biểu hiệu, cũng giữ lâu như là nó bảo lưu một dòng đơn nhất và kéo dài và bảo lưu sự tập trung. Tuệ giác là gì? Ngươi đem vào tâm các biểu hiệu của chính các pháp mà ngươi đang quán chiếu, áp dụng cùng một cách chú tâm mà được ngươi dùng để nuôi dưỡng định. “Tuệ giác” là bất kì điều gì kể từ thời điểm của hoặc sự phân biệt, hoặc sự phân biệt hoàn toàn, hoặc sự phân biệt hoàn toàn về các pháp, và cho đến khi nào thiện xảo và trí tuệ còn vận hành cùng khắp.

Mệnh đề này tương ứng với các trích dẫn bên trên. Nó cung cấp một chú giải với cùng một hiệu quả như kinh điển và luận văn của Thánh Giả (tức là ngài Vô Trước – ND), nên nó chứng thực điều chắc chắn về sự nhận diện đã đề cập của định và tuệ. Phần thứ hai Các Giai Trình của Thiền cũng có nêu :

Sau khi đã dập tắt được sự phân tán vào các đối tượng bên ngoài, ngươi dừng nghỉ vào trong tâm hỉ lạc và nhu hoạt mà được đặt lên một đối tượng nội tại của thiền một cách tự nhiên và liên tục. Điều này được gọi là Định từ thiền. Trong khi ngươi lưu lại trong định, sự phân tích (hay quán chiếu –ND) bất kỳ về chính đối tượng đó gọi là tuệ giác.

Trong Bát-nhã Ba-la-mật-đa luận Ratnakāraśānti cũng có dạy :

Về điều đó, đối tượng của định của thiền là một hình ảnh không rời rạc về một điều gì đó mà là một trong các trường hợp của sự phân hóa của các hiện tượng hay điều gì đó biểu thị bản chất thật sự. [474] Đối tượng của tuệ của thiền là một hình ảnh rời rạc của điều nào đó mà là một trường hợp về sự phân hóa của các pháp hay điều nào đó biểu thị bản chất thật sự.

Điều này khẳng định rằng Định từ thiền là sự ổn định không rời rạc lên một điều gì đó trong số hoặc là sự phân hóa của các pháp hoặc là bản chất thật sự của các pháp; và tuệ giác là sự quán chiếu về một trong hai điều đó. Đây cũng là ý nghĩa chủ định của đoạn kệ trong Đại Thừa Trang Nghiêm Luận Tụng :
“Bạch Thế Tôn, bao nhiêu đối tượng mà [trạng thái] định có?”
Phật thuyết: “Một, đúng hơn là một ảnh không rời rạc.”
“Bao nhiêu đối tượng mà trạng thái tuệ có?”
“Chỉ một, một hình ảnh rời rạc.”
“Có bao nhiêu đối tượng của cả hai?”
“Hai, đúng hơn là các giới hạn của sự tồn tại và thành tựu mụch đích của ngươi”


Trong Vi Diệu Pháp Tập Luận của Vô trước khẳng định rằng “các giới hạn của sự tồn tại” là cả sự phân hóa lẫn bản chất thật sự của các pháp , vậy nên định và tuệ đều đều dùng được cả những thứ tối hậu lẫn ước lệ như là các đối tượng của thiền, đã được Ratnakāraśānti giải thích như trên. Do đó, định từ thiền và trí tuệ là không phân biệt trong khuôn khổ về các đối tượng tương ứng của thiền, ở đó có Định từ thiền nhận biết tính không và có trí tuệ không nhận biết tính không. Trong Định từ thiền (zhi gnas), tâm thức ngươi chuyển hướng lặng lẽ (zhi) vào các đối tượng bên ngoài, và sau đó dừng (gnas) lại lên một đối tượng bên trong; tuệ giác (lhag mthong) là tối cao (lhag pa); nghĩa là đặc trưng, thấy biết (mthong).
Một số cho rằng một tâm thức dừng nghỉ trong một trạng thái không rời rạc thiếu cường độ mạnh là định, trong khi một tâm thức như thế cùng với cường độ mạnh mẽ là tuệ. Điều này không đúng vì nó mâu thuẫn với các định nghĩa về định và tuệ được thiết lập nhiều chi tiết trong các nguồn như là từ các ngôn từ của đấng Chiến Thắng, các giáo pháp của Đấng Nhiếp Chánh , các luận của Vô Trước và Các Giai Tầng về Thiền của Liên Hoa Giới. Các kinh luận này nói rằng Định từ thiền là sự chú tâm tập trung một điểm vào một đối tượng của thiền, trong khi tuệ giác là trí tuệ phân biệt một cách đúng đắn về một đối tượng của tri kiến. [475] Đặc biệt, sự hiện hữu hay thiếu vắng về cường độ sáng tỏ của tâm thức trong một ý thức vô niệm cho thấy khả năng sự tập trung bị hôn trầm ; hoàn toàn không đúng khi cho rằng đó là sự khác nhau giữa định và tuệ. Lý do là vì trong tất cả các sự tập trung tinh thần của Định từ thiền, ngươi nhất thiết phải dẹp sạch hôn trầm, và là vì mọi sự tập trung tinh thần miễn khỏi hôn trầm là các trạng thái sáng rõ không thay đổi của tâm .
Do đó, hãy nhận định sự tập trung tinh thần và trí tuệ mà chúng hướng tới bản chất thật theo cách mà tâm thức của ngươi nhận biết được hay không đối tượng của nó như là một trong nhị không . Chớ nên nhận định chúng theo cách mà tâm thức ngươi dừng nghỉ trong một trạng thái không rời rạc, rõ ràng, và hỉ lạc, bởi vì có vô số các trạng thái tập trung tinh thần với hỉ lạc, rõ ràng và không rời rạc nhưng lại chưa định hướng tâm của ngươi đến thực tại của các đối tượng, tức là một sự thiếu vắng bản ngã của các trạng thái đó. Ngay cả khi không có việc tìm kiếm tri kiến để nhận biết cách thức mà sự vật hiện hữu, thì tâm thức hoàn toàn không rời rạc bất kỳ vẩn có thể đủ để tạo ra sự hỉ lạc và rõ ràng. Ngay cả khi không có hiểu biết về tính không thông qua việc xác lập nhận thức về nó, thì không có gì ngăn cản ngươi phát triển sự tập trung tinh thần không rời rạc. Nếu giữ được tâm thức theo cách đó trong thời gian lâu dài thì ngươi gây ra cho các khí lực trở nên khả dụng. Một khi điều này xảy ra, thì không ngăn được việc sinh khởi của hỉ lạc, vì đó là bản chất của một năng lực khả dụng như thế để tạo ra sự vui sướng và hỉ lạc về tinh thần và thể chất. Một khi hỉ lạc đã sinh khởi, thì sẽ có sự rõ ràng về tinh thần trong các cảm giác về niềm vui sướng và hỉ lạc. Vì lý do này, đã có nhiều nguồn kinh luận quyền năng chứng minh rằng tất cả những tập trung tinh thần có tính hỉ lạc, rõ ràng, và không rời rạc đều thấy biết thực tại. Do đó, tuy hỉ lạc, rõ ràng và không rời rạc hiện hữu trong các cuộc tập trung tinh thần mà thấy biết tính không, thì vẩn thường xảy ra các sự tập trung tinh thần mà không trực tiếp hướng vào tính không, cho nên ngươi phải phân biệt được hai trạng thái này.

(d) Lý do phải nuôi dưỡng cả hai

Tại sao là thiếu sót khi chỉ nuôi dưỡng riêng từng phẩm chất định hay tuệ? Tại sao cần thiết để nuôi dưỡng cả hai? Ta sẽ giải thích. [476]
Khi ngươi đốt một ngọn đèn dầu để ngắm một bức tranh vào giữa đêm, ngươi sẽ thấy các miêu tả [trong tranh] rất rõ ràng nếu ngọn đèn rất sáng và cũng không bị chập chờn bởi gió. Nếu đèn không sáng, hay sáng tỏ nhưng lại bị lung linh trong gió thì ngươi sẽ không thấy các hình ảnh rõ ràng. Cũng thế, khi truy tầm ý nghĩa sâu sắc, ngươi sẽ thấy rõ thực tại nếu ngươi có đủ trí tuệ để nhận thức một các không sai sót ý nghĩa của thực tại và một sự chú tâm không dịch chuyển lưu giữ trên đối tượng của thiền bao lâu tùy ý ngươi. Dù sao, ngươi không có trí tuệ để thấy biết cách thức mà sự vật hiện hữu – ngay cả khi ngươi có một sự tập trung tinh thần không gián đoạn mà trong đó tâm thức ngươi ổn định và không phân tán sang các đối tượng khác – thì vẩn thiếu đi đôi mắt để thấy thực tại. Do vậy, sẽ không thể biết sự vật hiện hữu thế nào bất kể ngươi phát triển khả năng định của mình đến đâu. Và ngay cả khi có một tầm nhìn hiểu biết về thực tại – tức là vô ngã – nếu ngươi thiếu một sư tập trung vững chắc có thể lưu giữ một cách nhất tâm lên đối tượng của nó, thì cũng không thể nào thấy được rõ ràng ý nghĩa về cách thức mà sự vật hiện hữu bởi vì ngươi sẽ bị quấy nhiễu bởi các khí lực của tư tưởng rời rạc dao động không khống chế được. Trong phần thứ hai Các Giai Tầng của Thiền, Liên Hoa Giới có dạy :

Với tuệ giác trần trụi thiếu định, tâm thức nhà du-già bị phân tán bởi các đối tượng như ngọn đèn dầu trước gió, nó sẽ không thể vững bền. Vì lý do này, những gì trí tuệ siêu việt thấy được sẽ không rõ ràng. Như thế, hãy nương dựa vào cả hai một cách ngang nhau.

Do đó, Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahā-parinirvāṇa-sūtra) có dạy:
Thanh Văn không thấy truyền thừa của các Như-lai vì sự tập trung tư tưởng của họ lớn hơn trí tuệ của họ; các bồ-tát thấy nó, nhưng không rõ, vì trí tuệ tủa họ lớn hơn sư tập trung của họ. Các Như-lai thấu suốt mọi vật vì họ có định và tuệ ngang bằng. [477]

Với năng lực định, tâm thức của các ngươi – như ngọn đèn ở nơi không gió – sẽ không thay đổi bởi các ngọn gió của tư tưởng rời rạc. Với tuệ giác, những thứ khác không thể làm chệch hướng người và ngươi đã loại trừ những vướng mắc vô hạn của các tà kiến. Như trong kinh Nguyệt Đăng (Candrapradīpa-sūtra) có dạy:

Năng lực của Định từ thiền làm cho tâm thức vững bền; tuệ giác làm cho nó giống như một ngọn núi.

Vậy nên dấu hiệu của định từ thiền là sự chú tâm của ngươi lưu lại đúng ở nơi mà nó đặt lên mà không có sự phân tán khỏi đối tượng của thiền. Dấu hiệu của tuệ giác là việc mà ngươi thấy biết thực tại về vô ngã và loại trừ các tà kiến như là quan điểm về ngã; tâm thức ngươi như một ngọn núi không bị rung động bởi các đối lập. Do đó, ngươi nên phân biệt hai dấu hiệu này.

Trước khi đạt được trạng thái định do thiền, ngươi có thể dùng đến trí tuệ thấu suốt để phân tích ý nghĩa của vô ngã, nhưng tâm thức ngươi thì lại cực kỳ không bền vững, như ngọn đèn trước gió, nên khái niệm của ngươi về vô ngã thật không rõ ràng. Mặt khác, nếu ngươi quán chiếu khi đã thành tựu được định, ngươi sẽ tránh được các sai sót do sự không bền vững quá mức, cho nên khái niệm của ngươi về vô ngã sẽ rõ ràng. Do vậy, trạng thái tinh thần của tuệ giác có một phẩm chất về sự bền vững được dẫn xuất từ định từ thiền với tính chất không rời rạc và có một phẩm chất của việc thấy biết cách thức sự vật tồn tại điều mà không là một dẫn xuất từ định từ thiền. Chẳng hạn, khả năng của một ngọn đèn để chiếu sáng các hình tướng dẫn xuất từ bấc (tim đèn dầu - ND) và các thời điểm liền trước đó của ngọn lửa; nó không dẫn xuất từ các thứ như là bóng đèn (hay cái chụp đèn – ND) che chắn cho nó khỏi gió thổi. Mặc dù thế, độ bền vững về ngọn lửa ổn định của ngọn đèn lại dẫn xuất từ chụp đèn này. Do đó nếu ngươi tiến hành quán chiếu với một trí tuệ giữ trong thăng bằng về thiền của trạng thái định – tức là trạng thái không bị quấy nhiễu bởi hôn trầm hay trạo cữ -- thì ngươi sẽ hiểu được ý nghĩa của thực tại. Hãy nhớ trong tâm khẳng định từ kinh Kết Tập Pháp (Dharma-saṃgīti-Sūtra) :

Khi tâm thức ngươi trong trạng thái thăng bằng thiền, ngươi sẽ hiểu thực tại như nó là.

Phần thứ nhất Các Giai Tầng của Thiền có nêu : [478]

Vì tâm ngươi lưu chuyển như một dòng sông, nó không ngừng nghỉ nếu không có
một nền tảng về định từ thiền; một tâm thức mà không ở trong sự thăng bằng thiền thì không thể hiểu thực tại như nó là. Cũng vậy, Như-lai thuyết, “với sự thăng bằng thiền, ngươi tri kiến thực tại như nó là.”


Khi thành tựu trạng thái định, ngươi không chỉ ngừng sự sai sót của dịch chuyển trong ý thức trí tuệ quán chiếu lên vô ngã, mà ngươi còn ngừng cả sai sót của sự phân tán khỏi đối tượng thiền định mỗi khi dùng đến trí tuệ thấu suốt để tiến hành thiền quán lên các chủ đề như là vô thường, nghiệp và các hậu quả của nó, những sai sót của luân hồi, từ ái, bi mẫn, hay luyện tập về tinh thần của giác ngộ. Bất kể đối tượng của thiền là gì, ngươi tiến hành thiền không bị phân tán, nên công đức mà ngươi nuôi dưỡng sẽ mạnh mẽ hơn nhiều. Mặt khác, khi chưa đạt trạng thái định, ngươi làm suy giảm các đức hạnh cùa mình do sự phân tán thường xuyên vào các đối tượng khác. Như có nêu trong tác phẩm Nhập Bồ Đề Hành luận (Bodhicaryāvatāra), ngài Tịch Thiên có nêu :

Kẻ Tâm thức bị phân tán
Sống giữa nanh vuốt của các khổ đau.


Và :

Người thấy biết thực tại đã nói
Kẻ nguyện cầu, kẻ khổ hạnh và như là --
Ngay cả kẻ đã rèn luyện lâu ngày
Là chưa làm được gì nếu với một tâm phân tán.


Do đó, mục tiêu của việc thành tựu tập trung tư tưởng mà trong đó tâm thức ngươi đặt bền vững không rời rạc lên một đối tượng duy nhất mà không phân tán là để có sự khả dụng về tinh thần – tức là khả năng định hướng hoàn toàn theo ý muốn sự chú tâm của ngươi vào các đối tượng công đức của thiền. Nếu ngươi tập trung sự chú tâm một đối tượng thiền duy nhất, ngươi có thể lưu giữ ở đó, nhưng nếu ngươi thả lỏng nó, nó sẽ tiếp diễn như ý muốn đến các đối tượng công đức vô lượng như là nước đổ vào các dòng kênh tưới tiêu êm ả. [479] Do đó, sau khi ngươi đã đạt đươc trạng thái định từ thiền, ngươi phải duy trì trong các đối tượng và động thái thiền mà chúng ngưng được các sai sót vô hạn và đem lại được các công đức vô lượng, như là ý thức trí tuệ tập trung vào bản chất thật sự và sự phân hóa của các hiện tượng, bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, tín tâm, và sự tan biến các ảo ảnh của luân hồi. Hãy nhận ra rằng việc giữ bền tâm thức ngươi liên tục bằng cách gắn chặt nó vào một đối tượng thiền duy nhất sẽ không đem lại các lợi ích to tát nào trong việc thực hành công đức, nếu làm điều này mà không có nhận thức sâu sắc về mục tiêu của việc thành tựu trạng thái định.
Do vậy, nếu ngươi loại bỏ thiền quán với trí tuệ thấu suốt trong cả phương diện hành vi ba-la-mật-đa lẫn trong phương diện quan điểm về ba-la-mật-đa, thì việc nuôi dưỡng sự tập trung nhất tâm của ngươi sẽ rất yếu. Kỹ năng để tạo ra sự chắc chắn mạnh mẽ và lâu bền về ý nghĩa của vô ngã là sự quán chiếu được duy trì liên tục với trí tuệ thấu suốt. Thiếu một tuệ giác như thế lên bản chất thật sự, thì bất kể ngươi đã nuôi dưỡng định trong bao lâu, ngươi chỉ có thể ngăn sự hiển lộ của các đau khổ; ngươi không thể đào tận gốc rễ các hạt giống của chúng. Do vậy, không chỉ nuôi dưỡng định mà người cũng cần nuôi dưỡng tuệ giác vì như Liên Hoa Giới có đề cập trong phần thứ nhì trong Các Giai Tầng của Thiền :

Việc chỉ nuôi dưỡng định riêng lẽ không thoát khỏi các ngăn trở cho một hành giả; nó chỉ ngăn chận các khổ đau trong một thời gian. Ngoại trừ ngươi có ngọn đèn trí tuệ, ngươi không thể tiêu hủy các xu hướng tiềm tàng.

Vì lý do này mà Trang Nghiêm luận nêu :

Thăng bằng thiền ngăn chận các đau khổ; trí tuệ tiêu hủy các xu hướng tiềm tàng (Ở đây là các "tập khí nghiệp --ND).

Cũng thế, Chánh Định Vương Kinh (samādhirāja-sūtra) nêu :

Mặc dù các phàm phu nuôi dưỡng tập trung tinh thần
Họ không phá hủy được quan niệm về ngã.
Những phiền não của họ trở lại gây rối họ,
Uất-đà-la, như họ đã nuôi dưỡng tập trung tinh thần theo cách này .
Nếu ngươi phân biệt một cách có suy lý về sự thiếu vắng của ngã trong các pháp
Và nếu ngươi nuôi dưỡng quán chiếu này trong thiền
Thì sẽ tạo quả, đạt đến niết-bàn;
[480]

Không có an lạc nào qua các phương tiện bất kì nào khác.
Bồ Tát Tạng Kinh (Bodhisattva-Piṭāka) cũng có nêu :

Những ai chưa tu học nội dung Bồ-tát Tạng Kinh, chưa tu học giới luật chánh pháp, và những ai suy diễn ý tưởng về một sự đầy đủ chỉ từ trong tập trung tinh thần sẽ rơi vào hiệu quả của niềm kiêu hãnh của họ trở thành một ý tưởng tự thổi phồng về chính mình. Họ sẽ không thoát khỏi sinh , lão, bệnh, tử, đau sót, than khóc, phiền não, bất hạnh, và rối loạn; họ sẽ không thoát khỏi sáu giới của luân hồi ; họ sẽ không thoát khỏi hợp uẩn của đau khổ. Với diều này trong tâm, Như Lai thuyết. “Tu học từ những người khác là thích đáng, ngươi sẽ thoát khỏi lão và tử.”

Như vậy, những ai tìm kiếm trí tuệ siêu việt thuần khiết viên mãn từ đó mọi ngăn trở đều bị xóa tan đều nên nuôi dưỡng trí tuệ trong lúc vẩn lưu giữ ở trạng thái định. Về điểm này, Bảo Tích Kinh bộ (Ratna-kūṭa-grantha) dạy rằng :

Trì giới, ngươi sẽ đạt được tập trung tinh thần;
Thành tựu được tập trung tinh thần, ngươi nuôi dưỡng trí tuệ;
Với trí tuệ ngươi thành tựu trí tuệ siêu việt thuần khiết;
Khi trí tuệ siêu việt của ngươi thuần khiết, thì việc giữ giới của ngươi là toàn hảo
[tức là trì giới ba-la-mật-đa (ND)]

Và Kinh Đại Thừa Dưỡng Tín dạy rằng :

Thiện Nam Tử, nếu ngươi không có trí tuệ, ta sẽ không nói rằng người có tín tâm nơi Đại thừa của các bậc Bồ-tát, mà ta cũng không nói rằng ngươi biết bản chất thật sự nơi Đại thừa.

(e) Làm thế nào để đạt một cách chắc chắn về thứ tự của chúng

Trong Nhập Bồ-đề Hành luận, Tịch Thiên dạy :

Tuệ giác hiện hữu từ định
Tiêu hủy các khổ đau
Hãy tìm định từ đầu.


Theo khẳng định này, trước tiên ngươi thành tựu định từ thiền và tiếp sau nuôi dưỡng trí tuệ trên cơ sở đó. [481]
Vấn: Trong phần thứ nhất Các Giai Tầng của Thiền , Ngài Liên Hoa Giới nói: “đối tượng của nó về thiền thì không xác định”, nghĩa là đối tượng thiền của định từ thiền là không xác định. Như đã giải thích trên, đối tượng thiền của định từ thiền có thể là tự chính thực tại hay một hiện tượng thông thường hiện hữu trong thực tại. Nếu ngươi hiểu biết trước tiên ý nghĩa của vô ngã, thì điều đó cũng đủ để đồng thời sinh ra cả trạng thái định của một tâm thức không phân tán và trí tuệ tập trung vào tính không. Tại sao lại nói rằng ngươi trước tiên phải tìm kiếm trạng thái định rồi mới nuôi dưỡng tuệ giác?

Đáp: Cách thức mà trong đó định đi trước tuệ là như sau. Ngươi không cần có định để tuần tự phát triển một hiểu biết về quan điểm thấy biết rằng ngã không hiện hữu, chúng ta đều thấy được rằng ngay cả những ai chưa đạt định cũng có thể phát triển quan điểm này. Ngươi cũng không cần đạt định từ trước để trải nghiệm sự chuyển hóa tinh thần trong sự chú trọng đến quan điểm này; không có gì ngăn cản sự chuyển hóa tinh thần mang tới từ việc tu tập về quán chiếu thuần thục bằng trí tuệ thấu suốt, ngay cả khi không có mặt trạng thái định. Nếu ngươi cho rằng sự vắng mặt của định ngăn trở sự chuyển hóa tinh thần trong sự chú trọng đến quan điểm này, thì cũng chính lập luận này buộc ngươi kết luận một cách cực kỳ vô lý rằng trạng thái định đòi hỏi ngay cả trải nghiệm về sự chuyển hóa tinh thần khi thiền về tính vô thường, tức là các sai sót của luân hồi, hay về tinh thần giác ngộ.
Vậy thì tại sao định lực cần thiết cho tuệ giác? Theo Trang Nghiêm Luận tụng , thì chừng nào việc tu tập về sự phân biệt và sự phân biệt đặc thù cùng với trí tuệ thấu suốt không thể khởi tạo được được sự nhu hoạt về tinh thần và thể chất thì nó cấu thành một loại chú tâm mà tiếp cận đến tuệ giác; một khi nó khởi tạo sự nhu hoạt thì nó trở thành tuệ giác. Do vậy, nếu ngươi chưa đạt tới định, thì bất kể ngươi thiền quán bao nhiêu với trí tuệ thấu suốt, kết cuộc ngươi sẽ không thể khởi tạo được niềm khoái cảm và hỉ lạc của sự nhu hoạt tinh thần và thể chất. Một khi ngươi có được định từ thiền, thì ngay cả thiền quán về trí tuệ phân tích sẽ đạt đến nhu hoạt tột độ. Do đó, trí tuệ đòi hỏi trạng thái định từ thiền như là một nguyên nhân. Điều này sẽ được giải thích như sau.
Trí tuệ thấu suốt trở thành tuệ giác khi không có sự chú tâm lên một đối tượng đơn nhất, nó vẩn có thể khởi tạo sự nhu hoạt thông qua năng lực của phân tích. Vậy nên việc khởi tạo sự nhu hoạt qua việc đặt chú tâm của ngươi lên một đối tượng duy nhất của thiền – ngay cả khi đối tượng đó là tính không – thì không có con đường nào khác hơn là thành tựu định. Tại sao? Bởi nếu ngươi khởi tìm kiếm một hiểu biết về vô ngã trước, tức là việc phân tích ý nghĩa của nó lập lại nhiều lần, thì sẽ không thể nào thành tựu được định trên cơ sở phân tích về điều này vì ngươi chưa hề đạt tới trạng thái định trước đó. Nếu ngươi tiến hành thiền định mà không có quán, ngươi sẽ thành tựu định trên cơ sở đó. Dù sao, vì không có cách nào để duy trì tuệ giác ngoại trừ qua việc duy trì định, nên ngươi phải tìm kiếm tuệ giác sau đó. Do vậy, điều này không rơi ra ngoài dạng thức mà trong đó, tìm kiếm định trước, rồi dựa trên đó nuôi dưỡng tuệ giác.
Theo đó, cách thức mà tuệ giác phát triển là sự thiền quán thấu suốt tạo ra nhu hoạt. Nếu điều này không như thế, thì sẽ khống có lý do nào để tìm kiếm định trước và tiếp sau nuôi dưỡng tuệ giác dựa trên đó. Việc thất bại tiến hành thiền theo các trình tự này thì không mấy thích đáng vì Trang Nghiêm Luận tụng khẳng định trong một đoạn đã trích dẫn bên trên rằng các ngươi nuôi dưỡng tuệ giác trên cơ sở đã đạt được định. Cũng thế, thứ tự của thiền định và trí tuệ trong lục độ ba-la-mật-đa – mà trong đó dạy rằng “phẩm tính sau phát triển dựa trên phẩm tính trước đó” – cũng như là dãy thứ tự trong việc rèn luyện trí tuệ bậc cao hơn dựa trên việc rèn luyện tập trung tư tưởng cao hơn là tương hợp với dãy thứ tự trong đó ngươi nuôi dưỡng định trước và sau đó nuôi dưỡng tuệ giác. Trong Bồ-tát Địa (đã trích trước đây) và Thanh Văn địa (Śrāvaka- bhūmi) của ngài Vô Trước cho thấy tuệ giác được nuôi dưỡng trước trên cơ sở của định từ thiền. Cũng thế trong các tác phẩm “Trung Đạo Tâm luận” của Thanh Biện, “Nhập Bồ Đề Hành luận” của Tịch Thiên, và phần thứ ba trong “Các Giai Trình của Thiền Định”, “Tuệ Xưng” (jñāna-kīrti -ND) , “Bảo Tích Tịnh” (Ratnakaraśānti - ND) của Liên Hoa Giới, tất cả đều khẳng định rằng ngươi nuôi dưỡng tuệ giác sau khi đã tìm kiếm được định lực trước đó. Một số đại sư Ấn-độ cho rằng không cần tìm định riêng rẻ, ngươi khởi tạo tuệ giác ngay từ khi bắt đầu thông qua quán chiếu bởi trí tuệ thấu suốt. Vì quan điểm này mâu thuẩn với các kinh luận của những bậc đi tiên phong, nên kẻ khôn ngoan sẽ thấy rằng nó là điều không tin tưởng được.
Đây là thứ tự khi ngươi vừa mới phát triển định và tuệ lần đầu; sau này thì không xác định thứ tự thế nữa, ngươi có thể nuôi dưỡng định sau việc phát triển tuệ giác trước đó.
Vấn: Trong Vi diệu Pháp Tập Luận ngài Vô Trước có dạy “một số thành tựu tuệ giác, nhưng lại không đạt được định; họ phấn đấu để đạt định từ trên cơ sở của tuệ giác.” Ngài giải thích điều này như thế nào?
Điều này có nghĩa là họ chưa thành tựu định của trình độ ổn định thiền đầu tiên, hay các trình độ cao hơn; điều đó không loại trừ việc họ đã đạt tới định mà được bao hàm trong việc truy cập đến trình độ bình ổn thiền đầu tiên . Cũng thế, một khi ngươi có tri kiến nhận thức về Tứ Diệu Đế , ngươi có thể thiết lập trên cơ sở đó định lực về trình độ bình ổn thiền đầu tiên thật sự và những bình ổn thiền cao hơn. Ngài Vô Trước có dạy trong Du-già Sư Địa luận (Yogācāra-bhūmi) :
Ngoài ra, ngươi có thể biết một cách chính xác thực tại về các chân lý này từ Khổ cho đến Đạo, mà chưa thành tựu được trình độ bình ổn thiền đầu tiên, vân vân. Vừa lúc tri kiến về các chân lý này xảy đến, ngươi bình ổn tâm mình và không phân tích các pháp. Trên cơ sở trí tuệ cao hơn này, ngươi mưu cầu tu tập các trạng thái cao hơn của ý thức.
Nói chung, nhằm lợi ích cho việc hiểu biết toàn diện các thuật ngữ, có chín trạng thái tinh thần được gọi là định từ thiền và bốn lớp quán chiếu được gọi là tuệ giác. Dù sao, ngươi phải áp dụng các thuật ngữ “định thật sự” và “tuệ giác thật sự” – như là sẽ được giải thích – sau khi phát khởi về sự nhu hoạt.

----------Hết chương 1 ---------------
Tham Khảo:
• Kinh Giải Thâm Mật http://www.buddhismtoday.com/viet/kinh/ ... ammat2.htm (access May 16 2009. Đạo Phật Ngày nay 2000)
Last edited by voquangnhan on Fri Nov 20, 2009 3:03 pm, edited 2 times in total.
voquangnhan
 
Posts: 37
Joined: Thu Dec 13, 2007 8:16 am

Re: Định và Tuệ

Postby voquangnhan on Fri Nov 20, 2009 2:55 pm

Điều cần lưu ý trước khi đọc các chương về sau:

Trong nguyên bản Anh ngữ các dịch giả dùng các chữ sau đây để chỉ trạng thái định tâm (không hẳn là đạt hoàn toàn định mà đang tập định hay ít nhất ở trạng thái muốn nuôi dưỡng, đang nuôi dưỡng sư tập trung vào một chỗ)
1. Concentration
2. Focus -- Ở đây đôi khi focus (nghĩa Anh - Mỹ) còn là hành vi "hướng sự tập trung đến"

Do đó, trong nhiều trường hợp người đọc sẽ cảm thấy là "thiền định" (hay "chỉ") nhưng trong câu dịch vì tuyệt đối tôn trọng mức dùng chữ (danh định) của bản dịch, LĐ sẽ không tự tiện chuyển thành "thiền định" hay "thiền chỉ" mà chỉ dịch cả hai chữ trên theo hướng nghĩa là "tập trung" "sự tập trung" hay "hướng tập trung lên" (tuỳ ngữ cảnh -- context) Do đó tuỳ người đoc nắm hiểu. Tuy nhiên, một khi đã nắm được cách định danh của sách, việc hiểu sẽ rõ ràng hơn nhiều.

Trong các phần sau, việc giải thích vài thuật ngữ căn bản nhất của thièn chỉ (hay thiền định) là "toàn tâm", "tỉnh thức" và "nhất tâm" sẽ đươc ngài Tsongkhapa nhắc nhiều lần trong đó "toàn tâm" thường có ý chỉ rõ ràng là sự không quên lửng và tái lập liên tục hình ảnh ban đầu về đối tượng thiền. Trong khi tỉnh thức là khả năng tự quán kiểm lại trạng thái tâm thức của chính thiền giả. Tỉnh thức sẽ giúp mình thấy được mình có "đi lạc" hay đang phân tán hay đã phân tâm đi khỏi đối tương thiền. (Do đó nó giúp kéo lại sư tập trung vào chỗ cũ). việc vận dụng thành đạt cả hai toàn tâm và tỉnh thức đươc hiểu là "tập trung" hay thuật ngữ rõ hơn ở các phần về sau là "nhất tâm" tức là trạng thái tâm không còn "chạy lung tung" nữa mà ở yên 1 chỗ, thật thấu rõ lên đối tượng
voquangnhan
 
Posts: 37
Joined: Thu Dec 13, 2007 8:16 am

Re: Định và Tuệ

Postby voquangnhan on Fri Dec 04, 2009 10:27 am

Con kính lạy chư Tam Bảo, kính xin phù trợ cho đề án này thành công và đem lại mọi thành tựu cho chúng sinh.

Đại Pháp về các Giai Trình của Giác Ngộ Tập 3


---------------------------
Chương 2

(f) Cách thức rèn luyện cho mỗi ba-la-mật

Ở đây có 3 phần:
1. Cách thức tu tập định từ thiền (chương 2-6)
2. Cách thưc tu tập tuệ giác (chương 7-26)
3. Cách thức hơp nhất chúng (chương 26)

(i) Cách thức tu tập định từ thiền
Phần này có 3 phân mục
1. Dựa trên các tiền đề của định từ thiền
2. Cách thức nuôi dưỡng định trên cơ sở trên
3. Lượng định về sự nuôi dưỡng thành công của định (chương 5-6)

(a’) Dựa trên các tiền đề của định từ thiền
Từ đầu, thiền giả nên dưa vào các tiền đề của định, mà tạo điều kiện khả dĩ cho sự thành tựu định nhanh chóng và thuận tiện. Có 6 điều:

(1’) Trú ngụ nơi thích hợp
Nơi này nên có năm đặc tính: (a) Thuận đạt, có được sẵn các thứ cần thiết như là thưc phẩm và y trang; (b) là chỗ tốt để sinh sống, là nơi không có thú dữ như là các loài ăn thịt, không có các kẻ thù nghịch vân vân; (c) Ở trên một miếng đất tốt, không lan truyền các bệnh truyền nhiễm; (d) cống hiến một tình bằng hữu tốt trong khuôn khổ các đạo hữu của ngươi trì giới và đồng tâm; và (e) ở vị trí sao cho có ít người trong ban ngày và ít tiếng ồn vào ban đêm. Đại Thừa Kinh Trang Nghiêm Luận của Di-lặc có dạy :
Người khôn ngoan tu tập ở nơi
Thuận đạt, là một nơi tốt lành để sống,
Cộng hiến một chỗ tốt lành và các bẵng hữu tốt đẹp
Và thỏa màn các yêu cầu cho sự tu tập của hành giả được dể dàng

(2’) Thiểu dục
Ngươi không được tham chấp để có nhiều y trang hơn hay có cái tốt hơn và vân vân

(3’) Dung xã
Ngươi luôn luôn dung xã ngay cả khi có y trang nghèo khó nhất, vân vân.

(4’) Ngưng hoàn toàn nhiều hoạt động
Ngừng các hoạt động cơ bản như là mua và bán; ngươi cũng phải loại bỏ các giao tiếp xã hội không cần thiết với các gia chủ và các tu sĩ, cũng như là các theo đuổi khác như là y học và thiên văn.

(5’) Đơn thuần trì giới:
Các ngươi không được vi phạm các giáo huấn, không làm các hành vi sai trái với tự nhiên hay với luật cấm, hoặc là trong trường hợp các biệt giải thoát giới hay là các bồ-tát giới. Nếu ngươi đã vi phạm chúng qua sự vô ý, thì ngươi phải sửa chữa lại một cách đúng đắn với sư sám hối theo giáo pháp.

(6’) Dẹp bỏ hoàn toàn các ý tưởng tham chấp, vân vân
Trong trường hơp các tham chấp, hãy quán chiếu lên sự tai hại của chúng trong cuộc sống hiện tại, như là việc chúng dẫn tới bị giết hại hay bị bỏ giam, cũng như là sự tai hại của chúng trong tương lai, như là việc dẫn xuất đến sư tái sinh vào các giới khốn đốn. [485] Cách khác là, hày xóa bỏ các ý tưởng về tham chấp và tương tự như thế bởi việc thiền với ý tưởng cho rằng “Mọi thứ trong giới luân hồi, dù dể chịu hay không, đều là phù du và không vững bền. Bởi vì điều chắc chắn là tôi sẽ bị tách rời với tất cả mọi thứ này một cách chóng vánh, thì tại sao tôi phải tham muốn chúng?”

Thầy đã giải thích những điểm này theo nội dung trong phần thứ nhì Các Giai Đoạn Thiền của Liên Hoa Giới; các ngươi nên tu học thêm về chúng từ Thanh Văn Địa của Vô Trước. Sáu chủ đề này bao hàm các nhân và duyên then chốt cho việc bắt đầu phát triển định lực vững vàng, nhằm tồn lưu một định lực hiện hữu mà không bị suy giảm, và nhằm nâng cao định lực của ngươi. Đặc biệt, những điểm quan trọng nhất là trì giới cẩn thận, nhìn thấu các tham chấop như là sư tai hại, và lưu trú ở nơi thích hợp. Geshe Drom-dön-ba (dGe-bshes’Brom-ston-pargyal-ba’i-byung-gnas) dạy:
Chúng ta cho rằng sai sót chỉ thuộc về các giáo huấn cá nhân của ta, sau đó ta chỉ truy tầm trong các giáo huấn cá nhân, cho nên chúng ta không thể đạt tới định. Đay là kết quả của việc không đạt được các duyên của nó.
Thuật ngữ “các duyên” có nghĩa là sáu điểm giả thích như trên.
Hơn thế nữa, buốn ba-la-mật đầu hoạt dụng như là các tiền lệ cho ba-la-mật thứ năm, định từ thiền. Phần thứ nhất Các Giai Trình Thiền của Liên Hoa Giới khẳng định :
Ngươi hoàn tất định nhanh chóng khi ngươi không coi trọng tham chấp cho các sở hữu và những thứ như thế , gìn giữ giới luật nghiêm ngặt, ở một vị trí sẵn sàng chịu đựng các đau khổ, và nhẫn nhục một cách hoan hỉ. Đó là trường hợp mà, các nguồn kinh điển như là Kinh Giải Thâm Mật dạy rằng hạnh bố thí và các ba-la-mật khác là các nguyên nhân của sự thành công về các nguyên nhân cao hơn.
Bồ-đề Đạo Đăng luận (Bodhi-patha-pradīpa) của Atisha khẳng định :
Khi ngươi thiếu các yếu tố của định,
Ngay cả với việc thiền cần mẫn,
Ngươi vẩn không thành tựu được định
Dù trong nhiều ngàn năm

[486] Do đó, điều rất quan trọng cho những ai thành khẩn mong muốn đạt được các tập trung của định lực và trí huệ là làm việc với yếu tố hay các tiền đề của định, như là mười ba điều yêu cầu trong Thanh Văn Địa của Vô Trước .

(b’) Cách thức nuôi dưỡng định dưa trên cơ sở trên
Ở đay có hai phần (1) Sự chuẩn bị và (2) Tu Tập thực thụ.

(1’) Chuẩn bị
Tu tập sáu giáo pháp chuẩn bị kể trên và đặc biệt nuôi dưỡng tinh thần giác ngộ trong thời gian lâu dài; cũng thế, trong sự hỗ trợ của điều mà ngươi nên tiến hành các tu tập thiền, thì ngươi nên chia sẽ với những ai có căn cơ nhỏ hay trung bình .

(2’) Tu tập thực thụ
Phần thứ hai và ba của Các Giai Trình Thiền, Liên Hoa Giới dạy rằng ngươi nên áp dụng 8 điểm tư thế trên một chỗ ngồi rất mềm và thoải mái: (1) Đan chân trong cách của tôn đức Tì-nô-giá-la, sử dụng tư thế kiết già hay bán già. (2) Đôi mắt ngươi không nên mở rộng hay đóng kín qua, chúng nên dừng lại ở đỉnh mũi. (3) Ngồi với sư nhận biết hướng nội tâm, giữ thân thẳng không ngữa ra sau hay cong về phía trước quá xa. (4) Giữ đôi vai thẳng và ngang bằng. (5) không ngữa hay gục đầu và cũng không quay sang một bên; đặt nó sao cho mùi và rốn thẳng hàng. (6) Đặt răng và môi trong vị trí tư nhiên như bình thường. (7) Để lưỡi đóng với các răng trên. (8) Hơi hít vào và thở ra của ngươi không nên ồn ao, hay gượng ép, hay không đều đặn; hãy để chúng lưu thông không cần nổ lực, thật nhẹ nhàng, mà không có một ý nghĩ rằng nó địch chuyển đây đó.
Thanh Văn Địa của Vô Trước cung cấp năm lý do cho việc ngồi như đức Phật đã dạy, xếo tréo chân trên chỗ ngồi, ghế, hay thảm : (1) Trong tư thế này, toàn thân được kéo lại nhau có lợi cho việc khởi lên của sự nhu hoạt, nên ngươi có thể phát triển nhu hoạt rất nhanh. [487] (2) Ngồi kiểu này có thể giữ được tư thế trong thời gian dài; tư thế này không dẫn tới sự kiệt quệ về thể chất. (3) Tư thế này thì không thường thấy đối với những người ngoài Phật giáo và các người chống lại chúng ta. (4) Khi kẻ khác thấy ngươi ngồi trong tư thế này, họ sẽ cảm thán. (5) Đức Phật và các đệ tử của ngài đã đùng tư thế này và truyền lại cho chúng ta. Thanh Văn Địa của Vô Trước giảng rằng, dưới ánh sáng của những lý do này, ngươi nên ngồi tréo chân. Nó cũng dạy rằng ngươi nên giữ thân thẳng n hôn trầm và buồn ngủ không xảy ra.

(b’’) Tiến trình thiền
Nói chung, “các giai trình của đạo pháp” truyền thống cho tháy rằng ngươi thành tựu định qua các giá trị của tám phương thuốc loại trừ năm sai sót được nêu trong Trung Biên Phân Biệt luận (Madhyānta-vibhāga) . Các giáo huấn cá nhân truyền lại từ Geshe Lak-sor-wa (dGe-bshes Lag-sor-ba) giải thích rằng thêm vào đó ngươi phải thành tựu định thông qua chín trạng thái tinh thần mà Vô Trước giải thích trong Thanh Văn Địa. Học giả Yön-den-drak (Yon-tan-grags) dạy :
Các phương pháp về chín trạng thái tinh thần được bao gồm trong bốn sự chú tâm cùng với sáu sai sót và tám áp dụng các phương thuốc giải chống lại sai sót là phương tiện cho [việc đạt tới] tất cả sự tập trung. Điều này phù hợp với tất cả các giáo pháp về kỹ năng để ổn định thiền – được bao gồm trong hầu hết các kinh điển, Đại Thừa Kinh Trang Nghiêm Luận và Trung biên Phân biệt Luận của Di-lặc, các luận của Vô Trước về các Địa , và ba phần của Các Giai Trình Thiền của Liên Hoa Giới. Những ai tiên khởi có đủ các tiền đề về tập trung tinh thần đều sẽ nhất định đạt được tập trung tinh thần nếu họ sử dụng những phương tiện này để làm việc với nó. Ngày nay, làm như là các truyền thống truyền khẩu sâu sắc về ổn định thiền thiếu vắng ngay cả các tên của những kỹ năng này. [488] Các văn bản này không chỉ ra cho thấy rằng ngươi sẽ thành tựu định mà không có các tiền đề cho sự tập trung và các kỹ năng này, ngay cả nếu ngươi thực hành thiền trong thời gian lâu.

Điều này đã được khẳng định trong bản luận của ngài về các giai trình của đạo pháp; nó nói đến việc đạt được một sự chắc chắn thuần túy về cách mà các kinh văn cổ điển thể hiện lộ trình để thành tựu định. Về việc này, vì con đường chung của giáo pháp về các giai trình của các đạo pháp của tam thừa được giải thích chi tiết trong năm thánh điển của Vô Trước về các địa , đó là những bản luận văn chỉ dạy về các pháp tu tập này một cách rất bao quát. Một trong năm bản văn đó cung cấp giải thích thi tiết, trong khi các bản văn khác thì không. Trong tác phẩm Quyết Định Yếu luận (Viniścaya-saṃgrahaṇi), Vô Trước dạy rằng Thanh Văn Địa của ngài nên được sử dụng để hiểu định và tuệ, cho nên chính tác phẩm Thanh Văn Địa là bao quát nhất. Tôn giả Di-lặc cũng có bàn đến các phương pháp về chín trạng thái tinh thần và tám phương thuốc giải trong Đại Thừa Kinh Trang Nghiêm Luận và Trung Biên Phân Biệt Luận của ngài. Theo sau các ngài, những các đại sư Ấn-độ như là Sư Tử Hiền, Liên Hoa Giới, Bảo Sinh Tịnh, viết nhiều về tiến trình để thành tựu định. Trong một ý nghĩa chung về định, các mật điển rất nhất quán với các giải thích trong các kinh luận này, ngoại trừ việc sử dụng các đối tượng thiền khác, như là các thánh thể, các giọt, và các âm tiết. Đặc biệt, các văn bản trong lớp kinh điển cung cấp các bàn thảo rất bao quát về những vấn đề như là năm sai sót về tập trung và các cách thức để dẹp sạch chúng.
Dầu sao, những ai biết cách để tu tập chỉ riêng trên cơ sở các kinh văn cổ điển này thì hiếm hoi như các vì sao giữa ban ngày. Với những người lạm dụng các kinh luận đó, những vết nhơ về việc hiểu biết thiếu sót của họ chỉ xuất phát từ nhận thức nông cạn và bênh vực rằng các giáo huấn mà hiển lộ ý nghĩa tinh túy thì lại nằm ở nơi nào khác. Cho đến khi cần thiết áp dụng tu tập tiến trình về việc thành tựu tập trung tinh thần mà các kinh luận giải thích thì họ không nghiên cứu ngay cả cách thức để thực hiện nó.
Những giáo huấn cá nhân của giáo pháp này chỉ nhấn mạnh các tu tập được dẫn ra từ các kinh văn cổ điển từ bắt đầu cho đến kết thúc. Do đó, ở đây thầy sẽ giải thích các phương pháp được dùng để thành tựu tập trung tinh thần đưa ra từ các kinh văn cổ điển.
Giải thích về tiến trình thiền này có hai phần:
1. Cách thức phát triển sự tập trung không sai sót (chương 2-4)
2. Các giai trình mà trong đó những trạng thái tinh thần qua đó được phát triển (chương 5)
(1’’) Cách thức phát triển sự tập trung không sai sót
Phần này có ba điểm:
1. Làm gì trước khi tập trung chú ý lên một đối tượng thiền
2. Làm gì trong khi tập trung lên một đối tượng thiền (chương 2-3)
3. Làm gì sau khi tập trung lên một đối tượng thiền (chương 4)

(a)) Làm gì trước khi tập trung chú ý lên một đối tượng thiền
Nếu các ngươi không thể ngừng được sự biếng nhác của trạng thái không hứng thú để nuôi dưỡng định lực và của việc vui thú với các thứ không mang lại ích lợi cho nó, thì ngay từ đầu ngươi sẽ không đạt được bước nhập môn vào sự tập trung; ngay cả khi ngươi đã có lần đạt đến đó, ngươi sẽ không thể duy trì được nó, do đó nó sẽ nhanh chóng bị hư hỏng. Bởi vậy, điều quan trọng nhất là ngưng sư biếng nhác ngay từ khi bắt đầu. Khi ngươi đạt được nhu hoạt trong đó thân và tâm hoàn toàn vui sướng và hỉ lạc, ngươi sẽ ngừng biếng nhác vì sự thật là ngươi có thể nuôi dưỡng công đức cả ngày và đêm không mệt mỏi.
Để phát triển sư nhu hoạt này, ngươi phải tinh tấn liên tục cho khả năng tập trung tạo ra được nhu hoạt. Để phát triển sự tinh tấn này, ngươi cần có một khao khát liên tục và mạnh mẽ chú tâm vào sự tập trung tinh thần. Để có nguyên nhân thúc đẩy của sự khao khát này, ngưôi cần một tín tâm kiên định và một niềm đam mê vào các phẩm hạnh của sư tập trung tinh thần. Vậy nên để bắt đầu, hãy nuôi dưỡng lập đi lập lại lòng tin tưởng ý thức được các phẩm hạnh tốt đẹp của sư tập trung tinh thần. Khi các thấy được tiến trình này trong tu tập, thì ngươi sẽ hiểu đây là điểm tối quan trọng với một ý nghĩa chắc chắn rõ ràng nhất. Di-lặc khẳng định trong Trung Biên Phân Biệt luận :
Cơ sở và những gì dựa trên cơ sở đó
Là nguyên nhân và hậu quả của nó.

Ở đây, “cơ sở” là sự khao khát, là nên tảng cho nổ lực; “những gì dựa trên cơ sở đó” chính là nổ lực và tinh tấn. Nguyên nhân của sự khao khát này là lòng tin vững chắc vào các phẩm hạnh tốt đẹp của sư tập trung tinh thần.[490] Kết quả của sự nổ lực là sự nhu hoạt.

Với nội dung này, các phẩm hạnh tốt đẹp của sự tập trung tinh thần là như sau: Khi đạt trạng thái định, tâm ngươi được tràn ngập vui sướng và thân ngươi lấp đầy hỉ lạc, nên ngươi hạnh phúc trong cuộc sống này. Cũng vì đã thành tựu nhu hoạt về tinh thần và thể chất, ngươi có thể chuyển sự chú tâm đến bất kì đối tượng công đức nào của thiền mà ngươi chọn lựa. Vì đã chế ngự được sự phân tán thiếu kiểm soát hướng đến các hàng loạt đối tượng sai, nên một cách thường hằng, ngươi không còn dính líu vào các hành vi sai trái và mọi công đức ngươi làm đều rất mạnh mẽ. Dựa vào định, ngươi có thể đạt tới các phẩm hạnh tốt đẹp như là các tri kiến siêu việt và các năng lực siêu việt. Một cách đặc biệt, chính từ cơ sở của định, ngươi phát triển được tri kiến về tuệ giác thấu hiểu bản chất thật sự, mà bởi đó ngươi có thể cắt bỏ tận gốc của sự luận hồi. Nếu quán chiếu lền bất kỳ phẩm hạnh tốt đẹp nào, thì ngươi sẽ trở nên nhận thức và thiền trên các sự việc làm mạnh thêm thiên hướng nuôi dưỡng sư tập trung. Khi thiên hướng này khởi tạo, ngươi sẽ nhắc nhở liên tục từ bên trong để nuôi dưỡng sư tập trung tư tưởng, do vậy, sẽ dể đạt tới định. Cũng vì ngươi sẽ nuôi dưỡng nó tái lập nhiều lần nên ngay cả sau khi thành tựu nó, ngươi sẽ khó thể nào đánh mất nó.

(b)) Làm gì trong khi tập trung lên một đối tượng thiền
Phần này được chia làm hai
1. Nhận diện đối tượng thiền theo chỗ mà sự chú tâm của ngươi đặt vào
2. Cách thức để tập trung tinh thần vào đối tượng của thiền (chương 3)

(1)) Nhận diện đối tượng thiền theo chỗ mà sự chú tâm của ngươi đặt vào
Phần này có hai điểm
1. Một trình bày chung về các đối tượng của thiền
2. Nhận diện các đối tượng thiền theo nội dung này

(a’)) Một trình bày chung về các đối tượng của thiền
Ở đây có 3 mục:
1. Về chính các đối tượng thiền
2. Những ai nên thiền với các đối tượng nào
3. Các đồng nghĩa về đối tượng thiền

(1’)) Về chính các đối tượng thiền
Như Lai dạy rằng các thiền giả có 4 loại đối tượng thiền, đó là: (1) Các đối tượng phổ biến của thiền, (2) các đối tượng thiền để thanh lọc ứng xử của ngươi, (3) các đối tượng thiền cho sự thiện xảo, và (4) các đối tượng thiền cho việc tinh lọc các khổ đau.

(a’’)) Các đối tượng phổ biến của thiền
Các đối tượng phổ biến của thiền có 4 loại: (a) các hình ảnh rời rạc, (b) các hình ảnh không rời rạc, (c) các giới hạn tồn tại, và (4) thành tựu mục tiêu của ngươi. [491]
Hai loại hình ảnh (rời rác và không rời rạc) được ấn định theo các giới hạn của người quan sát: loại đầu là đối tượng của tuệ giác, và loại thứ hai là đối tượng của định từ thiền. Hình ảnh thì không phải là một đối tượng điển hình đặc biệt có thật để tâm thức ngươi tập trung lên đó mà đúng ra là sự trình hiện về một phương diện của đối tượng đó vào tâm thức ngươi. Khi ngươi tiến hành phân tích trong khi quan sát đối tượng, thì hình ảnh là rời rạc bởi vì có sư hiện diện của tư duy phân tích. Khi ngươi ổn định tâm mình không có sự phân tích trong lúc quan sát đối tượng , thì hình ảnh đó được gọi là không rời rạc vì thiếu sư suy nghĩ quán chiếu. Đối với các hình ảnh của các đối tượng thiền, thì chúng là hình ảnh những gì? Chúng là các hình ảnh hay các phương diện của năm đối tượng của thiền nhằm thanh lọc ứng xử, năm đối tượng thiền cho sự thiện xảo, và hai đối tượng thiền cho việc tinh lọc các khổ đau.

Các giới hạn của sự hiện hữu được ấn định qua sự tham chiếu đến đối tượng được quan sát. Có hai loại: Các giới hạn của sự hiện hữu cho sự sinh hóa của các hiện tượng được biểu thị qua mệnh đề, “Chỉ điều này là tất cả ở đó, không có gì nhiều hơn”; và giới hạn của sự hiện hữu cho bản chất thật sự, được biểu thị qua mệnh đề, “điều này một mình nó là cách và các sự vật hiện hữu; chúng không tồn tại theo cách khác”. Trong trường hợp về sự sinh hóa của các hiện tượng, điều này nghĩa là ngũ uẩn bao gồm tất cả các hiện tượng kết hợp; mười tám cấu thành và mười hai nguồn bao gồm tất cả các hiện tượng; và tứ diệu đế bao gồm mọi thứ ở đó để biết đến; không có gì khác ngoài điều này . Trong trường hợp về bản chất, điều này nghĩa là đó là lý do thiết lập nên chân lý hay thực chất về các đối tượng đó của thiền. Thành tựu mục tiêu đươc ấn định trong các nội dung của kết quả. Với định hay tuệ, ngươi hướng sư chú tâm của mình vào các hình ảnh của các đối tương thiền đó. Sau đó ngươi ổn định hóa chúng, trở nên quen thuộc với chúng, và bởi công đức tu tập tái lập nhiều lần, ngươi không còn các xu hướng sai sót, trong khi trải qua sự chuyển hóa nền tảng. [492]
(b’’)) Các đối tượng thiền cho việc thanh lọc ứng xử của ngươi
Các đối tượng thiền trong việc thanh lọc ứng xử là các đối tượng mà chúng thanh lọc ứng xử trong đó chấp trước hay các cảm xúc tương tự [sân hận, ảo tưởng, kiêu ngạo, hay phân tán] nổi trội. Có năm loại đối tượng thiền như thế. Tương ứng là: (a) xấu dở, (b) yêu thương, (c) duyên khởi (d) sự phân biệt các cấu thành, và (e) hít và thở. (a) Các đối tượng thiền lên sự xấu dở bao gồm ba mươi sáu điều xấu dở gắn liền với thân thể , như là lông tóc trên đầu và thân thể, và các điểm xấu xí bề ngoài như là xác chết chuyển màu xanh . Khi một khía cạnh không thuần khiết và xấu dở khởi lên trong tâm, ngươi hãy giữ sư chú tâm lên đó. (b) Yêu thương liên hệ đến việc tập trung vào các bằng hữu, kẻ thù, và những người mà với họ ngươi có cảm xúc trung tính, và có một ứng xử -- ở mức thằng bằng thiền – cung cấp cho họ sự hỗ trợ và hạnh phúc. Giữ sự chú tâm của ngươi lên các đối tượng với một thái độ yêu thương gọi là “ái thiền”; yêu thương ở đây đặt lên cả thái độ chủ quan lẫn đối tượng. (c) Về đối tượng thiền duyên khởi: Tất cả mọi thứ trong quá khứ, hiện tại và vị lai đều là duyên khởi trong đó các hậu quả vốn là các yếu tố hiện tượng đơn thuần chỉ khởi lập nên từ các yếu tố hiện tượng khác. Tách riêng khỏi các điều này, thì không có người thực hiện của các hành vi hay người trải nghiệm của các hậu quả. Ngươi tập trung sự chú ý của mình vào dữ kiện này, và lưu giữ nó. (d) Với đối tượng thiền lên sự phân biệt lên các cấu thành: ngươi hãy phân biệt các yếu tố của sáu cấu thành – đất, nước, lữa, gió, không gian, và ý thức. Ngươi tập trung sự chú ý lên chúng và giữ ở đó. (e) Về đối tương thiền hít và thở: Ngươi tập trung chú tâm không phân tán bằng cách đếm và quan sát hơi thỏ di chuyển vào ra.

(c’’)) Các đối tượng thiền cho sự thiện xảo
Cũng có năm đối tượng thiền cho sự thiện xảo, đúng hơn là sự thành thục trong (a) ngũ uẩn, (b) các cấu thành (c) các nguồn, (d) duyên khởi, và (e) điều gì khả dĩ và bất khả dĩ. (a) Các uẩn bao gồm năm uẩn về sắc và các uẩn khác [thọ (cảm thụ -ND), tưởng (nhận thức phân biệt -ND), hành (các yêu tố kết hợp -ND), và thức (ý thức -ND)]. Thiện xảo trong những điều này là biết rằng tách rời khỏi các uẩn, ngã và những gì liên quan đến ngã không tồn tại. (b) Các cấu thành là mắt và các thành tố khác trong mười tám thành tố. Thiện xảo trong chúng là việc thấy biết các điều kiện nguyên nhân bởi đó các cấu thành kia khởi lên từ chính những hạt giống của chúng. [493] (c) Các nguồn mắt và các nguồn khác trong mười hai nguồn. Thuần thục trong chúng là biết được rằng sáu nguồn nội tại (lục căn -- ND) là các điều kiện chủ yếu cho sáu thức, rằng lục nhập (sáu nguồn ngoại tại, lục trần) là các điều kiện đối tượng, và rằng thực thể tâm vừa ngưng là điều kiện lập tức trước đó (cho thực thể tâm kế tục –ND). (d) Duyên khởi là thập nhị nhân duyên . Thuần thục trong chúng là việc biết rằng chúng vô thường, đau khổ và thiếu vắng ngã. (e) Điều khả dĩ và bất khả dĩ là những thứ là có thể cho một kết quả ưa thích khởi lên từ một hành động thiện đức, và không thể xảy ra từ một hành vi không thiện đức. Thành thục trong điều này là biết được sự vật xảy ra theo cách này. Đây là trường hợp đặc biệt của thiện xảo trong duyên khởi; khác nhau ở chỗ là ngưởi hiểu sự phân hóa của các nguyên nhân .
Khi sử dụng các đối tượng thiền này cho việc nuôi dưỡng định, thì ngươi giữ sự chú tâm của mình lên chỉ một trong các khía cạnh mà trong đó các uẩn vân vân có thể được biết.
(d’’)) Các đối tượng thiền cho việc tinh lọc các khổ đau
Việc tinh lọc các khổ đau tức là hoặc chỉ tiêu giảm cường độ của các hạt giống của đau khổ hay một cách tối hậu nhổ tận gốc của các hạt giống đó. Trong trường hợp đầu, các đối tượng thiền là tương đối thô hơn cho mỗi giai đoạn thấp hơn và tương đối tĩnh lặng hơn cho mỗi giai đoạn cao hơn, tiếp diễn từ cấp độ dục giới cho đến cấp độ Vô sở hữu xứ . Trong trường hợp sau, các đối tượng thiền là sự vô thường và các khía cạnh khác trong mười sáu khía cạnh của Tứ diệu đế . Khi sử dụng các khía cạnh này như là đối tượng thiền để nuôi dưỡng định, ngươi không phân tích, ma thay vào đó đó là giữ sự chú tâm lên một nhận thức nào đó về một khía cạnh của các đối tượng đó mà nó trình hiện ra cho nhận thức.
Phần thứ hai Các Giai Trình Thiền của Liên Hoa Giới khẳng định rằng có ba đối tượng thiền như thế. (1) Sau khi ngươi tổng kết mọi thứ lại với nhau thì tất cả mười hai nhánh của kinh điển nói về việc xác định, xác lập, và việc xác lập xong thực tại, ngươi bình ổn tâm mình vào đó. (2) Ngươi quán chiếu các uẩn, vân vân mà bao gồm hiện tượng giới cho đến một số mở rộng. (3) Ngươi bình ổn tâm mình lên sắc than Phật, mà ngươi đã thấy hay nghe nói đến.
Làm thế nào để bình ổn tâm ngươi lên các sự việc như là các uẩn? [494] Khi hiểu cách thức mà tất cả sự vật có tính hợp thành có thể được bao gồm nội trong ngũ uẩn, ngươi thu thập chúng một cách suy tưởng, tuần tự vào trong các uẩn này. Sau đó, ngươi quan sát và giữ sự chú tâm lên chúng. Giống như khi trí tuệ thấu suốt phát triển, khi nuôi dưỡng sự thu thập này, ngươi phát triển sư tập trung mà ở đó sự chú tâm của ngươi thu nhóm lên đối tượng thiền mà không di chuyển hướng sang các đối tượng khác. Đây là giáo huấn cá nhân về truyền thống tri kiến. Tương tự, khi ngươi hiểu cách thức mà tất cả hiện tương có thể dươc bao gồm nội trong các thành tố và các nguồn, thì ngươi thu thập chúng một cách suy tưởng vào trong các phân lớp này và giữ sự chú tâm lên việc này.
Trong số bốn loại của các đối tượng thiền, thì các đối tượng thiền cho việc tinh lọc ứng xử, như đã được giải thích tạo thuận tiện cho việc ngừng tham chấp và các thứ như thế trong các hành xử của những ai bị lấn át bởi tham chấp và các thứ như vậy. Chúng là những đối tượng thiền đặc biệt vì ngươi có thể sẵn sàng đạt tới tập trung tinh thần dựa trên chúng. Các đối tượng thiền cho sự thiện xảo lợi ích cho sự phát triển của trí huệ hiểu biết về tính không vì chúng bác bỏ một bản ngã cá nhân mà không được bao hàm trong các hiện tượng đó. Vậy nên chúng là các đối tượng thiền tuyệt hảo cho việc nuôi dưỡng định. Các đối tượng thiền để loại trừ đau khổ phục vụ như là các liều thuốc giải độc cho các khổ đau, nên chúng có tầm quan trọng to tát. Các đối tượng thiền phổ biến thì không khác biệt với ba phương pháp đã bàn đến kia . Thế cho nên, vì ngươi phải thành tựu tập trung tinh thần có sử dụng một đối tượng để định từ thiền mà có một mục tiêu đặc biệt, nên những ai thành tựu định sử dụng các vật như là các sỏi đá và các nhánh cây làm đối tượng thiền rõ ràng là thiếu hiểu biết đúng đắn về giáo pháp về các đối tượng của sự tập trung tư tưởng.
Có những người cho rằng nếu ngươi tập trung lên một đối tượng thiền và giữ sự chú ý của mình lên đó, thì đây là một sự nắm bắt của các biểu hiệu. Họ cho là thiền lên tính không nghĩa là chỉ việc bình ổn tâm thức mình mà không dựa trên cơ sở nào, không tập trung lên bất kỳ một đối tượng thiền nào. Đây là một nhầm lẫn hoàn toàn về cách thức thiền lên tính không. Nếu ngươi không có ý thức vào lúc đó, thì ngươi sẽ không có một sự tập trung tinh thần để phát triển tính không. [495] Mặt khác, nếu ngươi có ý thức, thì ngươi thấy biết về chuyện gì đó, nên ngươi phải chấp nhận rằng có một đối tượng của ý thức trong các nội dung mà ở đó ý thức được đặt lên. Nếu có một đối tượng của ý thức, thì một cách chính xác đó chính là đối tượng thiền của tâm thức kia, vì “đối tượng”, “đối tượng thiền”, và “đối tượng của ý thức” có cùng một nghĩa. Trong trường hợp đó, họ phải chấp nhận rằng ngay cả phương pháp tập trung của họ cũng sẽ nắm bắt các biểu hiệu. Cho nên, tiếp cận của họ không đúng.
Xa hơn, bất kể những gì cấu thành thiền lên tính không đều được xác lập bởi việc có hay không việc thiền này dựa trên tri kiến thấy biết được cách thức mà sự vật là; nó không được xác lập bởi việc có hay không một khái niệm nào đó đối với đối tượng. Điều sẽ được minh giải chi tiết theo sau . Ngay cả với những ai cho rằng để bình ổn các tâm của họ mà không có một đối tượng thiee`nthi` trước tiên phải nghĩ là “tôi sẽ giữ sự chú tâm sao cho nó không tản lạc đến bất kỳ đối tượng nào hết”, và sau đó giữ sự chú tâm của họ theo cách đó. Sau khi đã tập trung như thế lên chính tự tâm như là một đối tượng thiền, họ phải giữ chắc không đổi lên dối tượng này mà không tản lạc trong cách nào đó. Do vậy, trải nghiệm riêng của họ mâu thuẩn với điều họ cho là mình không có đối tượng thiền.
Theo cách này các kinh luận cổ về thành tựu tập trung giải thích rằng có nhiều đối tượng thiền. Mục tiêu của các cơ sở thiền này là nhằm bình ổn tâm thức ngươi như đã được giải thích bên trên, vậy ngươi nên đạt tới sự thiện xảo trong chúng. Trong Các Giai Trình thiền, ngài Liên Hoa Giới giải thích rằng đối tượng của thiền định là không xác định , và tác phẩm “Bồ-đề Đạo Đăng luận” của Atisha dạy “[Chính là] đối tượng thiền nào hay các đối tương thiền nào thì cũng đều thích hợp. ”. Các mệnh đề này nghĩa là ngươi không nhất thiết phải bám dính với một đối tượng thiền đặc biệt nào; chúng không chỉ ra cách để xác định các loại đối tượng thiền hiện hữu.

(2’)) Ai nên thiền lên đối tượng nào
Do có nhiều hạng người, từ những người có nhiều tham chấp cho đến những người nhiều vọng tưởng, nên Vô Trước nêu trong Thanh Văn Địa lời đáp cho một câu hỏi của Revata :
Này Revata, nếu tham chấp nổi trội rõ ràng trong ứng xử của một tăng sĩ, một người tu học du-già, thì ông ta tập trung tâm mình lên đối tượng thiền về sự xấu xa. [496] Nếu sân hận nổi trội trong hành vi, thì ông ta thiền lên yêu thương; nếu vô minh nổi trội, thì ông ta thiền lên duyên khởi về điều kiện này; nếu kiêu ngạo nổi trội trong cư xử thì ông ta tập trung tâm mình lên sự phân biệt của các thành tố .
Và:
Nếu vọng tưởng nổi trội trong hành xử, thì ông ta tập trung tâm mình lên hơi thở ra và hít vào. Theo cách này, ông ta tập trung tâm mình lên đối tượng thiền đúng đắn.
Thanh Văn Địa của Vô Trước cũng khẳng định :
Về việc này, những ai có các ứng xử bị chiếm ưu thế bởi tham chấp, sân hận, vô minh, kiêu ngạo, hay vọng tưởng thì nên, trong thời gian bắt đầu, chỉ tinh lọc các ứng xử đó qua việc quán chiếu lên các đối tượng thiền để thuần khiết hóa ứng xử. Sau này họ sẽ thấy sự bình ổn của tâm mình, và họ sẽ biết chắc được đối tượng thiền nào dành cho họ. Vì thế họ chắc chắn sẽ kiên trì với các đối tượng thiền của mình.
Do đó, một cách chắc chắn, ngươi nên làm việc với các đối tượng thiền này.
Nếu ngươi là người có các hành xử cân bằng, hay người ít gặp phiền não, thì điều đó đủ để ngươi giữ sự chú tâm của mình lên đối tượng thiền nào mà ngươi thích; không cần thiết để có một đối tượng đặc biệt. Vô Trước khẳng định trong Thanh Văn Địa :
Những ai có ứng xử cân bằng nên làm việc với đối tượng nào mình thích để chỉ nhắm tới sư bình ổn tinh thần; Điều này không phải vì mục đích thanh lọc ứng xử. Nên biết cùng một cách áp dụng này dành cho những người có ít phiền não.

Bị lấn át bởi tham chấp – hay một thứ nào khác trong năm loại phiền não -- nghĩa là trong tiền kiếp ngươi đã hoàn toàn bi liên lụy vào phiền não đó, trở nên quen thuộc và biểu lộ nó thường xuyên, cho nên giờ đây dù nếu có một đối tượng nhỏ của tham chấp – hay đối tượng nào khác trong năm loại phiền não – thì phiền nào đó sẽ khởi lên trong một dạng mạnh mẽ và lâu dài. [497] Hành xử cân bằng nghĩa là ngươi đã không hoàn toàn liên lụy vào tham chấp và những phiền não khác, nên ngươi không trở thành quen thuộc với chúng, và ngươi đã không biểu lộ chúng thường xuyên. Thế nhưng, ngươi vẩn chưa nhận biết rằng chúng là các sai sót và ngươi chưa trừ khử chúng, nên trong lúc tham chấp và các phiền não không nổi trội hay bền lâu, thì không như ta nghĩ là chúng không xảy ra. Việc có ít các phiền não nghĩa là ngươi đã không dính dấp và vân vân hoàn toàn vào sự tham chấp – hay một loại nào khác trong năm loại – trong các tiền kiếp, và ngươi thấy được các bất cập của chúng, vân vân. Do đó, với sự chú trọng đến các đối tượng cho sự tham chấp và những thứ tương tự là chính yếu, nhiều, hay mạnh mẽ, thì sư tham chấp và các thứ tương tự của ngươi khởi phát chậm chạp, trong khi cho các đối tượng vừa phải hay thứ yếu thì các phiền não không khởi phát chút nào. Cũng thế, khi tham chấp hay một thứ tương tự trong năm loại phiền não là nổi trội thì ngươi tốn nhiều thời gian để bình ổn thật sự; với hành xử cân bằng, ngươi không mất thì giờ quá lâu; với các phiền não nhỏ, ngươi làm việc đó rất nhanh.
Một lời đáp cho câu hỏi của Revata [như đã trích dẫn trong Thanh Văn Địa] cũng giải thích về người làm việc về các đối tượng thiền dành cho sự thiện xảo :
Revata, nếu một tăng sĩ du-già, một thiền giả, mơ hồ về bản tính của tất cả các sự vật hợp thành, hay mơ hồ về vật được gọi là người, ngã, thể sống, kiếp sống được tái sinh, hay nuôi dưỡng, thì người đó nên tập trung tâm thức mình lên các đối tượng thiền thiện xảo về các uẩn. Nếu người đó mơ hồ về các nguyên nhân, thì nên tập trung đến các đối tượng thiền thiện xảo về các thành tố. Nếu người đó mơ hồ về các duyên, thì nên tập trung đến các đối tượng thiền thiện xảo về các nguồn. Nếu ông ta mơ hồ về sự vô thường, khổ và vô ngã thì nên tập trung lên các đối tượng thiền thiện xảo về duyên khởi, và lên những gì khả dĩ và bất khả dĩ.
Như khẳng định ở đây, ngươi chủ yếu dùng năm đối tượng thiền này để ngưng sự mơ hồ .
Dạng người nào nên tập trung tâm thức của họ vào các đối tượng thiền để loại trừ các phiền não cũng được khẳng định trong cùng một kinh [trả lời các câu hỏi của Revata] :
Nếu ngươi mong muốn thoát khỏi tham chấp về dục giới, hãy tập trung tâm mình lên sự thô thiển của dục giới và sự tĩnh lặng của sắc giới; [498] nếu ngươi mong muốn thoat khỏi tham chấp về sắc giới, hãy tập trung tâm mình vào sự thô thiển của sắc giới và sự tĩnh lặng của vô sắc giới. Nếu ngươi muốn trở nên tỉnh ngộ về mọi thứ của các các uẩn diệt vong, và mong muốn thoát khỏi chúng, thì hãy tập trung tâm mình lên khổ đế, tập đế, diệt đế, và đạo đế.
Nươi có thể dùng các đối tượng thiền này cho cả thiền quá với tuệ giác và thiền định với định lực, nên chúng không phải là các đối tượng dành riêng cho định. Tuy vậy, vì một số trong chúng phục vụ như là các đối tượng thiền cho việc bắt đầu thành tựu định và số khác được dùng cho mục đích đặc biệt sau khi đạt được định, mà thầy đã giải thích chúng ở đây trong phần nói về các đối tượng thiền của định.
(3’)) Các đồng nghĩa về đối tượng thiền
Có các đồng nghĩa về các hình ảnh hay các trình hiện tinh thần của các đối tượng thiền được giải thích bên trên, đây là “các điểm dựa trên đó sư chú tâm được lưu giữ“, hay “các cơ sở thiền cho sự tập trung”, như là được khẳng định trong Thanh Văn Địa của Vô Trước :
Cũng thế, các hình ảnh được gọi là “hình ảnh”; nó cũng được gọi là “biểu tượng của sự tập trung”, “đối tượng trong nội dung của sư tập trung”, “kỹ thuật của sự tập trung”, “cửa để tập trung”, “cơ sở của sự chú tâm”, “thể của sự hình dung hóa hướng nội”, và “ảnh trình hiện”. Hãy nhận biết đây như là các đồng nghĩa của hình ảnh ứng với đối tượng đã được biết.

(b’)) Nhận điện các đối tượng thiền trong nội dung này
Giờ đây trong các đối tượng thiền thầy đã giải thích, thì ngươi nên đựa trên đối tượng thiền nào cho mình để thành tựu định? [499] Như được khẳng định trong đoạn kinh trích dẫn bên trên, thì không có một đối tượng đơn nhất, xác định mà các cá nhân đòi hỏi đối tương thiền đặc biệt cho mình. Một cách cụ thể nếu ngươi nhất quyết ít nhất phải thành tựu định, và nếu hành xử của ngươi bị thống trị bởi tham chấp hay các phiền não khác, thì ngươi cần áp dụng một loại đối tượng thiền đặc biệt. Nếu không làm thế thì có khả năng ngươi đạt tới một sự tập trung tựa như định, nhưng ngươi sẽ không đạt được định thật sự. Nói rõ ra, ngay cả nếu ngươi rèn luyện với một đối tượng thiền để thanh lọc các ứng xử của mình, ngươi sẽ không đạt tới định trừ khi ngươi làm như thế trong thời gian rất lâu dài, làm sao ngươi có thể đạt được nó bởi việc từ chối các đối tượng thiền nhằm thanh lọc ứng xử? Một cách đặc biệt, nếu ngươi có sự nổi trội về tính lan man, thì ngươi nhất định phải thiền lên hơi thở.
Nếu ngươi là người có ứng xử cân bằng, hày người có ít phiền não, thì, như đã giải thích lúc trước , thì hãy tạo ra cơ sở thiền về các đối tượng đươc giải thích bên trên sao cho nó lôi cuốn ngươi nhất.
Theo cách khác, các khẳng định trong phần trung và hạ trong Các Giai Trình Thiền của Liên Hoa Giới, tiếp theo sau là Thập Phương Hiện Tại Phật Tất Tại Tiền Lập Định kinh (Pratyutpanna-buddha-saṃmukhāvasthita-samādhi-sūtra) và Định Vương Kinh rằng ngươi thành tựu tập trung tư tưởng bởi tập trung vào Pháp Thân Phật. Cũng thế, đại sư Giác Hiền giải thích một tập [các đối tượng] :
Ở đây, định có hai lớp: đạt được bằng cách nhìn vào nội tâm và cách [dựa] trên một đối tượng thiền quán sát ra ngoài. Trong số đó, việc nhìn vào nội tâm có hai phân lớp: tập trung vào thân và tập trung vào điều dựa trên thân làm cơ sở. Trong đó, việc tập trung lên thân có ba nhóm con: nhóm tập trung lên tự chính thân trong khía cạnh của một giác thể; nhóm tập trung lên những thứ xấu xí như các bộ xương; và nhóm tập trung lên các biểu tượng đặc biệt, như là một khaṭvāṇga .
Việc tập trung vào những điều dựa trên thân làm cơ sở có năm nhóm con: Tập trung vào hơi thở; tập trung vào biểu tượng thánh thể vi tế, tập trung vào các giọt, tập trung vào các khía cạnh của các hào quang, và tập trung vào vui sướng và hỷ lạc.[500]
Định dưa trên một đối tượng thiền quán ra ngoài có hai phân lớp: thông thường và siêu việt. Trong số đó, đối tương siêu việt có hai nhóm con tập trung vào thân của một giác thể và việc tập trung vào khẩu của một giác thể.
Trong Bồ-đề Đạo Đăng luận (Bohdi-mārga-pradīpa-pañjikā), Atisha cũng có trích dẫn đoạn trên.
Với điều này, để giữ sự chú tâm của ngươi lên một sắc thân Phật là gợi tưởng hình ảnh Phật, nên nó khởi tạo vô hạn công đức. Khi hình ảnh về sắc thân Phật đó rõ ràng và mạnh mẽ, thì sẽ có một gia tăng đặc biệt về sự tập trung thiền của ngươi lên phạm vi quan hệ đến những hành vi thu thập công đức thông qua bái lạy, cúng dường, cầu nguyện, vân vân, cũng như là lên lãnh vực quan hệ đến việc ngươi thanh lọc các trở ngại thông qua sám hối, kiềm chế, vân vân. Loại thiền này phục vụ cho nhiều mục tiêu. Như khẳng định trước đây rút ra từ Định Vương Kinh , nó có các lợi thế như là việc ngươi không đánh mất sư toàn tâm của mình về đức Phật khi ngươi lìa đời. Và khi ngươi nuôi dưỡng lộ trình mật chú, nó nâng cao du-già giác thể, vân vân. Kinh Thập Phương Hiện Tại Phật Tất Tại Tiền Lập Định cung cấp một luận bàn rất rõ ràng và chi tiết vè các lơi ích này, cũng như là phương pháp để hướng tâm thức ngươi đến đức Phật. Do đó, ngươi hoàn toàn nên làm quen với chúng từ chỗ đó, như Liên Hoa Giới chỉ ra trong phần cuối Các Giai Trình Thiền. E rằng sẽ dông dài nên thầy không viết chúng ra đây. Một cách hậu quả, đó là kỹ năng trong ý nghĩa tìm kiếm một đối tương thiền mà bởi đó ngươi đạt được tập trung tư tưởng và cũng thỏa mãn đươc các mục tiêu đặc biệt khác trong thời gian tu tập.
Làm cách nào để ngươi dùng một loại như sắc thân Như Lai làm một đối tượng thiền? Liên Hoa Giới khẳng định trong phần cuối của Các Giai Trình Thiền :
Trong nội dung đó, các hành giả trước tiên nên giữ nguyên sự tập trung của mình lên điều mà họ đã thấy và điều mà họ đã nghe về sắc thân Như Lai, và sau đó thành tựu định. Sắc thân Như Lai có màu vàng như màu vàng ròng, phụ kèm với các chi tiết là các vẻ đẹp và các tướng tốt, và các hiệu quả các cánh tay của các chúng sinh có mang nhiều ý nghĩa . Bằng cách liên tục hướng tâm thức mình về sắc thân đó, thiền giả phát triển một ước muốn đến các phẩm chất tốt đẹp đó và chế ngự được hôn trầm, trạo cữ và vân vân. [501] Họ nên tiếp tục bình ổn thiền càng lâu càng tốt khi vẩn thấy hình ảnh được rõ ràng, như là đức Phật đang ngồi trước mặt họ.
Định Vương Kinh cũng nói rằng ngươi nên sử dụng loại đối tượng thiền này :
Đấng Hộ Trì vinh hiển của thế gian
Với một thân sáng tỏa sắc vàng
Người, bồ-tát, nhất tâm vào đối tượng
Được gọi là trong định an nhiên
Có hai cách để làm việc này, tưởng tượng một cách mới mẻ sắc tướng của Phật và hình dung hóa sắc tướng của Phật như là ngài đang hiện diện thật sự, cách thứ nhì có một sư thuận lơi riêng biệt trong việc phát triển tín tâm và thích hơp trong nội dung của các rèn luyện chung cho cả kinh thừa và mật thừa. Do đó, hãy áp dụng một hình ảnh được hình dung hóa về sắc tướng của Phật như là hình ảnh đó đang thật sự tồn tại. Khi tìm kiếm đối tượng thiền, tức là cơ sở mà dưa trên đó ngươi đặt sư chú tâm, thì hãy kiếm một bức tranh hay một tượng điêu khắc tuyệt vời về thân của sư phụ ngươi và quan sát nó nhiều lần. Hãy nhớ các tính năng của nó, hãy tự làm cho thân thuộc với nó một cách chắc chắn bằng sự xuất hiện trong trí óc về đối tượng. Hay, hãy tìm cho ngươi đối tượng thiền qua việc quán chiếu lên ý nghĩa của các miêu tả hùng hồn về sắc thân Phật mà ngược được nghe kể từ thiện xảo sư của ngươi và tạo cho hình ảnh này trình hiện trong tâm ngươi.
Hơn thế nữa, đừng để cho đối tượng thiền có một đặc tính nào của một bức tranh hay tượng; đúng hơn là nghiên cứu để có hình ảnh đó trình hiện trong tâm ngươi với khía cạnh của một vị phật.
Một số người đặt hình ảnh phía trước mình và lập tức thiền trong khi quan sát vào bức ảnh. Đại sư Ye-shay-day (Ye-shes-sde) không cho rằng cách tu tập này là xuất sắc. Ngài dạy rằng sự tập trung không đạt được trong có ý thức cảm thụ, mà trong ý thức tinh thần; do đó, đối tượng thật của thiền trong một sự tập trung là đối tượng thực sự về một ý thức tinh thần. Do đó, ngươi phải giữ chú tâm lên đối tượng này. Ngài cũng khẳng định những gì thầy đã giải thích bên trên , rằng ngươi phải tập trung tâm mình lên sự trình hiện của khái niệm hiện có, hay hình ảnh tinh thần, của đối tượng thiền.
Xa hơn nữa, có cả các nét đặc điểm thô lẫn vi tế trong sắc thân phật. Một nơi khác đã khẳng định trước tiên ngươi phải tập trung lên các nét đặt điểm thô, và sau này, khi các nét đó đã vững chải, ngươi phải tập trung lên các nét vi tế. [502] Như kinh nghiệm cũng cho thấy rằng rất dể khởi tạo một trình hiện của các đặc điểm thô, ngươi phải phát triển đối tượng thiền trong các giai đoạn khởi đầu qua các đặc điểm thô.
Mơt điểm đặc biệt quan trọng là cho đến khi ngươi hoàn tất sư tập trung thỏa mãn như giải thích dưới đây, thì đưng bao giờ thử phát triển sư tập trung thiền cho ngươi bằng cách dịch chuyển sự tập trung của ngươi lên nhiều loại đối tượng thiền. Vì nếu ngươi nuôi dường sự tập trung qua việc di chuyển đến nhiều đối tượng thiền khong tương tự nhau, nó sẽ là chướng ngại to tát để đạt đến định. Do đó, các kinh văn thẩm quyền về thanh tựu tập trung , như là các luận của Vo Trước về các địa và ba phần Các Giai Trình Thiền của Liên Hoa giới, giải thích rằng khi lần đầu thành tựu tập trung, ngươi làm như thế trong quan hệ với một đối tượng thiền duy nhất; các luận đó không nói là ngươi đổi dời giữa nhiều đối tượng thiền. Thánh Dũng cũng khẳng định rõ ràng trong Ba-la-mật-đa tập luận (Paramitā-samāsa) :
Làm vững chắc sự quán chiếu của tâm ngươi
Bằng sự chắc chắn vào một đối tượng thiền
Nếu cứ để trôi theo nhiều đối tượng
Sẽ làm tâm bị quấy rối bởi phiền đau
Ngài đã đề cập điều này trong phần về việc thành tựu ổn định hóa thiền.
Bồ-đề Đạo Đăng luận của Atisha cũng dạy :
Ổn định tâm trong đức hạnh
Trên chỉ một đối tượng thiền nào thôi.
Ngài chỉ ra điểm này qua cụm từ “trên chỉ một”
Do đó, trước hết có được một đối tượng thiền và đạt tới định, sau đó ngươi có thể tập trung lên nhiều đối tượng thiền. Liên Hoa Giới dạy trong phần thứ nhất Các Giai Trình Thiền :
Chỉ khi ngươi đã giành được sự chú ý tập trung thì ngươi mới nên tập trung vào chi tiết về các phần đặc thù của đối tượng, như là các uẩn và các cấu thành. Trong ánh sáng của các phần đặc thù của của các đối tượng thiền của hành giả như là mười tám tính không mà đước phật thuyết trong các kinh văn, như là được dạy trong Kinh Giải Thâm Mật rẵng có nhiều phương diện về đối tượng của thiền .
Theo đó, sự suy lường cho việc đầu tiên tìm ra đối tượng thiền mà trên đó ngươi lưu giữ sự chú tâm là như sau:hình dung hóa nhiều lần theo dãy đầu, hay cánh tay, phần còn lại của thân mình, và hai chân. [503] Sau đó, nếu ngươi đặt sự chú tâm vào lên toàn bộ thân như một tổng thể, thì ngươi chỉ có thể khởi tạo trước tâm thức mình một nữa số các thành phần thô, sau đó ngay cả thiếu vắng sự sáng rõ tỏa ra – ngươi nên thỏa mãn chỉ với hình ảnh này và giữ nguyên sự chú tâm của mình lên đó. Tại sao? Nếu không thỏa mãn chỉ với hình ảnh đó, ngươi thất bại để giữ nguyên sự chú tâm của mình lên nó và thay vào lại mun ảnh rõ ràng hơn, sau đó, khi ngươi hình dung hóa nó lập đi lập lại, đối tượng thiền sẽ rõ hơn một chút nhưng ngươi sẽ không thu được một sư tập trung tinh thần bền vững; thật ra, ngươi sẽ ngăng trỏ chính mình để đạt tới định. Mặc dù đối tượng thiền không hoàn toàn rõ, nếu ngươi giữ sự chú tâm một cách chính xác lên một phần của đối tượng thiền, thì ngươi sẽ nhanh chóng nhận được sự tập trung. Vì việc này sau đó làm mạnh sư rõ ràng, ngươi sẽ sẵn sàng thành tựu sư sáng rõ. Điều này có từ giáo huấn của Ye-shay-day; nó rất quan trọng.
Về cách kiểu cách mà trong đó đối tương thiền trình hiện, ngươi có thể thành hai tập hợp của bốn khả năng: cho nhiều tuýp người, có khi dể hoặc khó để có được một ảnh xuất hiện, và sự trình hiện của ảnh đó có thể rõ ràng hay không; hơn thế nữa, cả hình ảnh rõ lẫn hình ảnh không rõ ràng lại có thể ổn định hay không. Dù sao, có nhiều khác biệt đán quan tâm, ngươi không thể tuyệt đối xác định điều gì sẽ xảy ra.
Khi ngươi đang tu tập du-già giác thể trong mật chú thừa, ngươi nhất định phải thiết lập được ảnh rõ ràng của một giác thể. Vậy nên cho đến khi khởi tạo được việc này, ngươi phải dùng nhiều phương tiện để phát triển nó. Mặc dù thế, trong nội dung ngoài mật điển, nếu ngươi có khó khăn to tát trong việc làm cho ảnh của một giác thể xuất hiện, ngươi có thể tiếp nhận bất kỳ một trong các đối tượng thiền đã được trình bày phần trên và giữ sư chú tâm của ngươi lên đó vì mụch đích chính chỉ là để thành tựu một sư tập trung của định từ thiền. Cũng vậy, trong khuôn khổ ngoài mật điển này, nếu ngươi tu tập bằng việc tập trung lên một giác thể và giữ sự chú tâm của mình ở đó ngay cả hình ảnh này không trình hiện, thì ngươi sẽ không thành đạt được mục tiêu mong muốn. Do vậy, ngươi phải giữ sự chú tâm lền hình ảnh mà nó có trình hiện.

-------Hết chương 2 --------------
voquangnhan
 
Posts: 37
Joined: Thu Dec 13, 2007 8:16 am


Return to Thiền Chỉ Quán

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest

cron