Xin cảm ơn WEB Master (Không biết còn wen hông??? -- "just kidđing chị Tan Cho" nhe) và chị HN.
Ở đây vì đề tài thiền chỉ và quán... Trong sách Đại Pháp Lamrim Chenmo (LRCM) của tổ Tsongkhapa (Tông Khách Ba) thì dạy theo thứ tự của lục độ ba-la-mật-đa. Tức là Định sẽ tương ứng với phần tu "thiền chỉ" và tuệ sẽ tương ứng với phần tu tập "thiền quán".
LĐ được phép của ngài Rinpoche Tsering Phuntsok (bộ tưởng Tôn Giáo Tây Tạng) và "specific arrangement" của nhà xuất bản SnowLion. Cho nên xin mạn phép gửi đăng lên đây phần "Định". Dĩ nhiên, tài liệu dù có đã có hiệu đính sơ lược (chưa phải là final) nên chắc vẩn còn nhiều lỗi -- xin bỏ quá --. Chính là muốn đem lại ích lợi cho anh chị nào đang tu tập thiền vì thấy giáo pháp rất hay và rất hữu hiệu. Rất tiếc là khi cut & past các chú chích đều bị cắt. LĐ chỉ xin đặt sơ lươc. Có anh chị nào thấy sai sót xin chỉ dạy thêm.
LĐ sẽ trình bày từng chương (gồm 6 chương) về định -- Phần Tuệ hiện giao cho 1 đạo hữu khác dịch giúp nên chưa có để trình bày
:Con kính lạy chư Tam Bảo, kính xin phù trợ cho đề án dịch này thành công và đem lại mọi thành tựu cho chúng sinh.
------------------------------------------------
Great Treatise on the Stages of the Path vols 1-3. SnowLion. Copyright 2002 Tibetan Buddist Learning Center.
------------------------------------------------
Đại Pháp về các Giai Trình của Giác Ngộ Tập 3
Phần I Định từ thiền
1. Định và Tuệ
2’’ Đặc Biệt cách rèn luyện hai Ba-la-mật sau cùng
(a) Những lợi ích của việc nuôi dưỡng định và tuệ
(b) Làm sao để định và tuệ bao gồm tất cả mọi trạng huống của sự tập trung thiền
(c) Bản chất của định và tuệ
(d) Lý do phải nuôi dưỡng cả hai
(e) Làm thế nào để đạt một cách chắc chắn về thứ tự của chúng
---------------------------
Các đại sư cao quý đều có [tâm] đại từ bi; Con cuối đầu đảnh lễ dưới chân các ngài..
2’’ Đặc Biệt cách rèn luyện hai Ba-la-mật sau cùng
Rèn luyện hai Ba-la-mật sau cùng, một cách đặc biệt, là cách để nuôi dưỡng định và tuệ từ thiền vì định và tuệ được bao hàm một cách tương ứng trong các ba-la-mật về sự ổn định trong thiền và trong trí tuệ. Mục này này có các phần:
1. Các lợi ích của việc nuôi dưỡng định và tuệ
2. Chỉ ra rằng hai định và tuệ bao gồm tất cả mọi trạng huống của sự tập trung thiền
3. Bản chất của định và tuệ
4. Lý do phải nuôi dưỡng cả hai
5. Làm thế nào để đạt một cách chắc chắn về thứ tự của chúng
6. Làm thế nào để luyện tập cho mỗi kỹ năng (chương 2-26)
(a) Những lợi ích của việc nuôi dưỡng định và tuệ
Tất cả các phẩm chất tốt đẹp thế tục và xuất thế của Đại thừa và Tiểu thừa đều là kết quả của định và tuệ. Kinh Giải Thâm Mật có ghi :
Này Di-lặc, ngươi nên biết rằng tất cả những phẩm hạnh thế tục và xuất thế của các Thanh Văn, Bồ-tát, hay Như Lai đều là kết quả của định và tuệ.
Vấn: Có phải hay không định và tuệ là các phẩm hạnh đạt đến được trong dòng tâm thức của các hành giả thông qua thiền? Sao lại có thể xảy ra tất cả các phẩm hạnh là kết quả từ cả hai?
Đáp: Như sẽ được giảng giải, định và tuệ thực tế là những phẩm hạnh trong dòng tâm thức của những ai đạt được chúng qua thiền, cho nên tất cả các phẩm hạnh của Đại thừa và Tiểu thừa không là kết quả do bởi chúng. Tuy vậy, sự tập trung mà ít nhất có tính nhất tâm lên một đối tượng thiện đức được xem là định; những chánh kiến phân biệt được một đối tượng là ước lệ hay tối hậu được xem là trí tuệ. Đây là ý mà kinh văn nêu rằng tất cả những phẩm hạnh của tam thừa là kết quả từ định và tuệ, cho nên không có sự mâu thuẩn.
Với cùng một hàm ý, Kinh Đại Thừa Dưỡng Tín nêu :
Thiện Nam Tử, danh mục này là thông điệp cho ngươi rằng tín tâm trong Đại thừa của các bồ-tát -- và thật ra, tất cả các pháp do Đại thừa -- đều đến từ việc quán chiếu đúng về các thực tính và ý nghĩa (tức là quán --ND) với một tâm thức không phân tán (tức là chỉ -ND).
Tâm thức không phân tán là sự nhất tâm về tinh thần, tức là định tính, trong khi sự quán chiếu đúng về các thực tính và ý nghĩa là trí tuệ sáng suốt, tức là tuệ giác tính. Do đó, ngươi phải thành tựu được tất cả phẩm hạnh của nhị thừa thông qua (1) duy trì sự phân tích (hay quán chiếu - ND) với trí tuệ sáng suốt (trí bát-nhã -ND) và (2) nhất tâm tập trung lên đối tượng của thiền. Ngươi không thành tựu được chúng qua thực hành phiếm diện của thiền quán hoặc thiền chỉ.
Cũng thế, Kinh Giải Thâm Mật nêu :
Một khi hành giả đã phát triển Tuệ
Và định, thì họ thoát khỏi
Ràng buộc của các xu hướng sai lạc
Và của sự lệ thuộc vào các biểu hiệu
Ở đây, “các xu hướng sai lạc” là các thiên hướng nội tại tiềm ẩn trong dòng tâm thức của ngươi mà có thể sinh ra sự tăng trưởng các cấp độ của những nhận thức sai lạc; “biểu hiệu” là các luyến chấp đang xảy ra tới các đối tượng sai lạc, mà nó nuôi dưỡng các thiên hướng nội tại đó. Trong Bát Nhã Ba-la-mật-đa luận của ngài Ratnakāraśānti dạy rằng tuệ giác xoá tan được điều trước (các xu hướng sai lạc – ND) trong khi định xoá bỏ được điều còn lại (các biểu hiệu –ND) .
Những điều này là các lợi ích thuộc về “định” và “tuệ”, nhưng ngay cả khi các thuật ngữ không được dùng đến, thì vẩn có các mệnh đề về các lợi ích của sự bình ổn thiền và trí tuệ. Hãy nhận thức rằng các mệnh đề này mô tả các lợi ích của định và tuệ.
(b) Làm sao để định và tuệ bao gồm tất cả mọi trạng huống của sự tập trung thiền
Những cành, lá, hoa và trái của một cây là không có giới hạn, nhưng điểm cốt lõi là ở chỗ chúng đều có cùng một gốc. Như ví dụ này, định và tuệ là cốt lõi tối thắng ở chỗ chúng thu thập tất cả điều mà đức Phật nói về các trạng thái vô hạn của thiền tập trung trong Đại thừa, Tiểu thừa. Kinh Giải Thâm Mật nhận định :
Biết rằng định và tuệ bao gồm tất cả các khía cạnh của các trạng thái thiền tập trung mà Thế Tôn đã thuyết với các Thanh Văn, bồ-tát, và Như lai
Do vậy, vì những ai dự định đạt được thiền tập trung không thể lĩnh hội hết một số vô lượng các sắc tướng khác nhau, họ nên biết rõ và luôn dựa trên những kỹ năng để duy trì định và tuệ, dẫn xuất của tất cả các sự tập trung. Trong phần thứ ba Các Giai Trình của Thiền của ngài Liên Hoa Giới có thuyết :
Mặc dù Thế Tôn tại đó đã thuyết về các sự tập trung bồ-tát khác biệt nhau là bất khả tư lường, thì định và tuệ bao trùm tất cả chúng. Vậy nên ta chỉ thuyết bàn về đạo pháp hợp nhất định và tuệ.
Và, như tuyên thuyết trong Các Giai Trình của Thiền phần thứ nhì của Liên Hoa Giới nêu rõ :
Vì cả hai bao gồm tất cả các trạng thái của thiền tập trung, tất cả các ngươi chắc chắn tại mọi thời gian đều nên dựa vào định và tuệ.
(c) Bản chất của định và tuệ
Khi đề cập bản chất của định, kinh Giải Thâm Mật nêu :
Trong khi an trú tại nơi tĩnh mịch và hướng sự chú ý của mình vào nội tâm, ngươi chỉ chú mục đến các đề tài mà ngươi đã quán chiếu một cách cẩn thận. Sự lưu tâm của ngươi được tiến hành một cách tinh thần qua việc chú tâm liên tục vào bên trong. Trạng thái của tâm do ngươi thực hành điều trên, và thường xuyên lưu giữ theo cách này, và ở trong trạng thái mà cả tinh thần lẫn thể chất đều nhu hoạt được gọi là “định”.
Điều này có nghĩa là ngươi chọn một đối tượng thích hợp nào đó làm đối tượng của thiền, chẳng hạn như ngũ uẩn, mà đã được xác định là một đề mục trong Thập nhị bộ kinh . Với một sự toàn tâm và tỉnh giác không phân tán, hành giả tập trung sự chú tâm vào đối tượng và giữ nguyên sự chú tâm đó liên tục, sao cho tâm thức của ngươi trở nên ổn định tương hợp với chính đối tượng của thiền. Khi ngươi tạo được hạnh phúc và hỉ lạc của sự nhu hoạt về thể chất và tinh thần, thì trạng thái tập trung thiền của hành giả trở nên định. Điều này chỉ xảy đến thông qua việc duy trì sự chú ý vào nội tâm của ngươi, không phân tán khỏi đối tượng của thiền; điều đó không tùy thuộc vào việc hiểu biết thực chất của sự việc.
Như bản chất của tuệ giác, đoạn kinh trên nêu ra :
Sau khi ngươi đã đạt được sự nhu hoạt về tinh thần và thể chất, hãy giữ trạng thái đó và loại bỏ các yếu tố tinh thần khác. Sau đó, thiền giả chú trọng vào bên trong và với nhận thức thấu suốt vào hình ảnh tinh thần mà đó vốn là phạm vi của sự tập trung thiền lên các chủ đề ngươi đã quán chiếu đến. Với sự liên hệ tới các hình ảnh vốn là phạm vi của sự tập trung như thế, sự phân biệt bất kì về ý nghĩa của các chủ đề đó, hay là sự phân biệt hoàn toàn, sự khảo sát xuyên suốt, sự quán chiếu xuyên suốt, sự trì nhẫn, sự mong ước, sự phân biệt về các chi tiết, quan điểm, hay ý tưởng được gọi là “tuệ giác”. Do đó bồ-tát thiện xảo trong tuệ giác. [472]
Được kể lại rằng sư Trung Hoa Ha-shang (Hva-shang -- dịch nghĩa là "Hoà Thượng"), sau khi đọc thấy lời giải thích rất rõ ràng và không chối cãi được rằng tuệ giác là trí tuệ thấu suốt, đã la lên: “Ta không biết làm thế nào mà cái này có thể là một bộ kinh!” và đá nó đi. Ông ta làm thế vì khẳng định của kinh này đã không phù hợp với luận điểm của ông ta rằng bởi vì tất cả các niệm về mọi thứ sẽ dính líu đến sự nắm bắt các biểu hiệu, ngươi nên loại trừ trong thiền và trí tuệ thấu suốt theo ý nghĩa sâu sắc này bằng cách không đem bất kì điều gì vào trong tâm thức. [Ông cho rằng] Các tiếp cận thế này có rất nhiều bám chấp .
Trong đoạn kinh đó, “sự phân biệt” nghĩa là việc nhận ra sự phân hóa của các hiện tượng (hay các pháp –ND) thế tục; “sự phân biệt hoàn toàn” nghĩa là việc nhận ra bản chất [tối hậu] thật sự của nó. Thánh giả Vô Trước giải thích rằng “sự khảo sát xuyên suốt” là khi ý niệm tại chỗ của trí tuệ nắm bắt một biểu hiệu; “sự quán chiếu xuyên suốt” là sự thẩm tra đúng đắn. “Sự khảo sát” nghĩa là khảo sát thô thiển; “quán chiếu” nghĩa là phân tích chi tiết. Sự nắm bắt ở đây không phải là một khái niệm của thực hữu, mà đúng hơn là sự phân biệt chính xác các chi tiết của một đối tượng. Theo đó, có cả sự khảo sát và sự phân tích về bản chất thực tại lẫn sự phân hóa của các pháp.
Ứng với kinh Giải Thâm Mật, kinh Bảo Vân (Ratna-megha-sūtra) cũng nêu rõ:
Định là sự chú ý nhất tâm; tuệ là sự thấu suốt đúng đắn .
Cũng thế, bồ-tát Di-lặc có dạy trong Đại Thừa Kinh Trang Nghiêm Luận (mahāyāna-sūtralaṅkāra-kārikā) :
Biết như lộ trình của định
Là việc viết gọn tên của một hiện tượng ;
Hiểu như lộ trình của tuệ
Là quán chiếu các ý nghĩa của nó
Và ,
Dựa trên một vững chãi chân thật
Qua việc hướng sự chú ý của hành giả vào tâm mình
Và qua sự phân biệt các pháp,
Hiện hữu định và tuệ từ thiền
Điều này khẳng định rằng sự bền vững của tâm trên cơ sở tập trung chân chính là định và trí tuệ phân biệt các pháp là tuệ giác. [473] Vì các lời chú giải này có cùng hiệu lực như những gì các kinh trên đề cập, sẽ không thích đáng nếu giải thích các đoạn kinh trên theo một ý nghĩa khác.
Trong Bồ-tát Địa luận ngài Vô Trước cũng có dạy :
Với tâm thức của hành giả hướng đến đối tượng của thiền một cách xác định mà đơn thuần không biểu tả sự vật hay ý nghĩa của nó, một nhận thức chăm chú không có tất cả sự suy diễn rộng ra, không có tất cả sự phân tán nào lên đối tượng bất kì của thiền. Sau đó “trạng thái định do thiền” tồn tại kể từ thời điểm mà sự tập trung tư tưởng nội tại bền vững hóa và dồn chú ý vào một biểu hiệu, cũng giữ lâu như là nó bảo lưu một dòng đơn nhất và kéo dài và bảo lưu sự tập trung. Tuệ giác là gì? Ngươi đem vào tâm các biểu hiệu của chính các pháp mà ngươi đang quán chiếu, áp dụng cùng một cách chú tâm mà được ngươi dùng để nuôi dưỡng định. “Tuệ giác” là bất kì điều gì kể từ thời điểm của hoặc sự phân biệt, hoặc sự phân biệt hoàn toàn, hoặc sự phân biệt hoàn toàn về các pháp, và cho đến khi nào thiện xảo và trí tuệ còn vận hành cùng khắp.
Mệnh đề này tương ứng với các trích dẫn bên trên. Nó cung cấp một chú giải với cùng một hiệu quả như kinh điển và luận văn của Thánh Giả (tức là ngài Vô Trước – ND), nên nó chứng thực điều chắc chắn về sự nhận diện đã đề cập của định và tuệ. Phần thứ hai Các Giai Trình của Thiền cũng có nêu :
Sau khi đã dập tắt được sự phân tán vào các đối tượng bên ngoài, ngươi dừng nghỉ vào trong tâm hỉ lạc và nhu hoạt mà được đặt lên một đối tượng nội tại của thiền một cách tự nhiên và liên tục. Điều này được gọi là Định từ thiền. Trong khi ngươi lưu lại trong định, sự phân tích (hay quán chiếu –ND) bất kỳ về chính đối tượng đó gọi là tuệ giác.
Trong Bát-nhã Ba-la-mật-đa luận Ratnakāraśānti cũng có dạy :
Về điều đó, đối tượng của định của thiền là một hình ảnh không rời rạc về một điều gì đó mà là một trong các trường hợp của sự phân hóa của các hiện tượng hay điều gì đó biểu thị bản chất thật sự. [474] Đối tượng của tuệ của thiền là một hình ảnh rời rạc của điều nào đó mà là một trường hợp về sự phân hóa của các pháp hay điều nào đó biểu thị bản chất thật sự.
Điều này khẳng định rằng Định từ thiền là sự ổn định không rời rạc lên một điều gì đó trong số hoặc là sự phân hóa của các pháp hoặc là bản chất thật sự của các pháp; và tuệ giác là sự quán chiếu về một trong hai điều đó. Đây cũng là ý nghĩa chủ định của đoạn kệ trong Đại Thừa Trang Nghiêm Luận Tụng :
“Bạch Thế Tôn, bao nhiêu đối tượng mà [trạng thái] định có?”
Phật thuyết: “Một, đúng hơn là một ảnh không rời rạc.”
“Bao nhiêu đối tượng mà trạng thái tuệ có?”
“Chỉ một, một hình ảnh rời rạc.”
“Có bao nhiêu đối tượng của cả hai?”
“Hai, đúng hơn là các giới hạn của sự tồn tại và thành tựu mụch đích của ngươi”
Trong Vi Diệu Pháp Tập Luận của Vô trước khẳng định rằng “các giới hạn của sự tồn tại” là cả sự phân hóa lẫn bản chất thật sự của các pháp , vậy nên định và tuệ đều đều dùng được cả những thứ tối hậu lẫn ước lệ như là các đối tượng của thiền, đã được Ratnakāraśānti giải thích như trên. Do đó, định từ thiền và trí tuệ là không phân biệt trong khuôn khổ về các đối tượng tương ứng của thiền, ở đó có Định từ thiền nhận biết tính không và có trí tuệ không nhận biết tính không. Trong Định từ thiền (zhi gnas), tâm thức ngươi chuyển hướng lặng lẽ (zhi) vào các đối tượng bên ngoài, và sau đó dừng (gnas) lại lên một đối tượng bên trong; tuệ giác (lhag mthong) là tối cao (lhag pa); nghĩa là đặc trưng, thấy biết (mthong).
Một số cho rằng một tâm thức dừng nghỉ trong một trạng thái không rời rạc thiếu cường độ mạnh là định, trong khi một tâm thức như thế cùng với cường độ mạnh mẽ là tuệ. Điều này không đúng vì nó mâu thuẫn với các định nghĩa về định và tuệ được thiết lập nhiều chi tiết trong các nguồn như là từ các ngôn từ của đấng Chiến Thắng, các giáo pháp của Đấng Nhiếp Chánh , các luận của Vô Trước và Các Giai Tầng về Thiền của Liên Hoa Giới. Các kinh luận này nói rằng Định từ thiền là sự chú tâm tập trung một điểm vào một đối tượng của thiền, trong khi tuệ giác là trí tuệ phân biệt một cách đúng đắn về một đối tượng của tri kiến. [475] Đặc biệt, sự hiện hữu hay thiếu vắng về cường độ sáng tỏ của tâm thức trong một ý thức vô niệm cho thấy khả năng sự tập trung bị hôn trầm ; hoàn toàn không đúng khi cho rằng đó là sự khác nhau giữa định và tuệ. Lý do là vì trong tất cả các sự tập trung tinh thần của Định từ thiền, ngươi nhất thiết phải dẹp sạch hôn trầm, và là vì mọi sự tập trung tinh thần miễn khỏi hôn trầm là các trạng thái sáng rõ không thay đổi của tâm .
Do đó, hãy nhận định sự tập trung tinh thần và trí tuệ mà chúng hướng tới bản chất thật theo cách mà tâm thức của ngươi nhận biết được hay không đối tượng của nó như là một trong nhị không . Chớ nên nhận định chúng theo cách mà tâm thức ngươi dừng nghỉ trong một trạng thái không rời rạc, rõ ràng, và hỉ lạc, bởi vì có vô số các trạng thái tập trung tinh thần với hỉ lạc, rõ ràng và không rời rạc nhưng lại chưa định hướng tâm của ngươi đến thực tại của các đối tượng, tức là một sự thiếu vắng bản ngã của các trạng thái đó. Ngay cả khi không có việc tìm kiếm tri kiến để nhận biết cách thức mà sự vật hiện hữu, thì tâm thức hoàn toàn không rời rạc bất kỳ vẩn có thể đủ để tạo ra sự hỉ lạc và rõ ràng. Ngay cả khi không có hiểu biết về tính không thông qua việc xác lập nhận thức về nó, thì không có gì ngăn cản ngươi phát triển sự tập trung tinh thần không rời rạc. Nếu giữ được tâm thức theo cách đó trong thời gian lâu dài thì ngươi gây ra cho các khí lực trở nên khả dụng. Một khi điều này xảy ra, thì không ngăn được việc sinh khởi của hỉ lạc, vì đó là bản chất của một năng lực khả dụng như thế để tạo ra sự vui sướng và hỉ lạc về tinh thần và thể chất. Một khi hỉ lạc đã sinh khởi, thì sẽ có sự rõ ràng về tinh thần trong các cảm giác về niềm vui sướng và hỉ lạc. Vì lý do này, đã có nhiều nguồn kinh luận quyền năng chứng minh rằng tất cả những tập trung tinh thần có tính hỉ lạc, rõ ràng, và không rời rạc đều thấy biết thực tại. Do đó, tuy hỉ lạc, rõ ràng và không rời rạc hiện hữu trong các cuộc tập trung tinh thần mà thấy biết tính không, thì vẩn thường xảy ra các sự tập trung tinh thần mà không trực tiếp hướng vào tính không, cho nên ngươi phải phân biệt được hai trạng thái này.
(d) Lý do phải nuôi dưỡng cả hai
Tại sao là thiếu sót khi chỉ nuôi dưỡng riêng từng phẩm chất định hay tuệ? Tại sao cần thiết để nuôi dưỡng cả hai? Ta sẽ giải thích. [476]
Khi ngươi đốt một ngọn đèn dầu để ngắm một bức tranh vào giữa đêm, ngươi sẽ thấy các miêu tả [trong tranh] rất rõ ràng nếu ngọn đèn rất sáng và cũng không bị chập chờn bởi gió. Nếu đèn không sáng, hay sáng tỏ nhưng lại bị lung linh trong gió thì ngươi sẽ không thấy các hình ảnh rõ ràng. Cũng thế, khi truy tầm ý nghĩa sâu sắc, ngươi sẽ thấy rõ thực tại nếu ngươi có đủ trí tuệ để nhận thức một các không sai sót ý nghĩa của thực tại và một sự chú tâm không dịch chuyển lưu giữ trên đối tượng của thiền bao lâu tùy ý ngươi. Dù sao, ngươi không có trí tuệ để thấy biết cách thức mà sự vật hiện hữu – ngay cả khi ngươi có một sự tập trung tinh thần không gián đoạn mà trong đó tâm thức ngươi ổn định và không phân tán sang các đối tượng khác – thì vẩn thiếu đi đôi mắt để thấy thực tại. Do vậy, sẽ không thể biết sự vật hiện hữu thế nào bất kể ngươi phát triển khả năng định của mình đến đâu. Và ngay cả khi có một tầm nhìn hiểu biết về thực tại – tức là vô ngã – nếu ngươi thiếu một sư tập trung vững chắc có thể lưu giữ một cách nhất tâm lên đối tượng của nó, thì cũng không thể nào thấy được rõ ràng ý nghĩa về cách thức mà sự vật hiện hữu bởi vì ngươi sẽ bị quấy nhiễu bởi các khí lực của tư tưởng rời rạc dao động không khống chế được. Trong phần thứ hai Các Giai Tầng của Thiền, Liên Hoa Giới có dạy :
Với tuệ giác trần trụi thiếu định, tâm thức nhà du-già bị phân tán bởi các đối tượng như ngọn đèn dầu trước gió, nó sẽ không thể vững bền. Vì lý do này, những gì trí tuệ siêu việt thấy được sẽ không rõ ràng. Như thế, hãy nương dựa vào cả hai một cách ngang nhau.
Do đó, Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahā-parinirvāṇa-sūtra) có dạy:
Thanh Văn không thấy truyền thừa của các Như-lai vì sự tập trung tư tưởng của họ lớn hơn trí tuệ của họ; các bồ-tát thấy nó, nhưng không rõ, vì trí tuệ tủa họ lớn hơn sư tập trung của họ. Các Như-lai thấu suốt mọi vật vì họ có định và tuệ ngang bằng. [477]
Với năng lực định, tâm thức của các ngươi – như ngọn đèn ở nơi không gió – sẽ không thay đổi bởi các ngọn gió của tư tưởng rời rạc. Với tuệ giác, những thứ khác không thể làm chệch hướng người và ngươi đã loại trừ những vướng mắc vô hạn của các tà kiến. Như trong kinh Nguyệt Đăng (Candrapradīpa-sūtra) có dạy:
Năng lực của Định từ thiền làm cho tâm thức vững bền; tuệ giác làm cho nó giống như một ngọn núi.
Vậy nên dấu hiệu của định từ thiền là sự chú tâm của ngươi lưu lại đúng ở nơi mà nó đặt lên mà không có sự phân tán khỏi đối tượng của thiền. Dấu hiệu của tuệ giác là việc mà ngươi thấy biết thực tại về vô ngã và loại trừ các tà kiến như là quan điểm về ngã; tâm thức ngươi như một ngọn núi không bị rung động bởi các đối lập. Do đó, ngươi nên phân biệt hai dấu hiệu này.
Trước khi đạt được trạng thái định do thiền, ngươi có thể dùng đến trí tuệ thấu suốt để phân tích ý nghĩa của vô ngã, nhưng tâm thức ngươi thì lại cực kỳ không bền vững, như ngọn đèn trước gió, nên khái niệm của ngươi về vô ngã thật không rõ ràng. Mặt khác, nếu ngươi quán chiếu khi đã thành tựu được định, ngươi sẽ tránh được các sai sót do sự không bền vững quá mức, cho nên khái niệm của ngươi về vô ngã sẽ rõ ràng. Do vậy, trạng thái tinh thần của tuệ giác có một phẩm chất về sự bền vững được dẫn xuất từ định từ thiền với tính chất không rời rạc và có một phẩm chất của việc thấy biết cách thức sự vật tồn tại điều mà không là một dẫn xuất từ định từ thiền. Chẳng hạn, khả năng của một ngọn đèn để chiếu sáng các hình tướng dẫn xuất từ bấc (tim đèn dầu - ND) và các thời điểm liền trước đó của ngọn lửa; nó không dẫn xuất từ các thứ như là bóng đèn (hay cái chụp đèn – ND) che chắn cho nó khỏi gió thổi. Mặc dù thế, độ bền vững về ngọn lửa ổn định của ngọn đèn lại dẫn xuất từ chụp đèn này. Do đó nếu ngươi tiến hành quán chiếu với một trí tuệ giữ trong thăng bằng về thiền của trạng thái định – tức là trạng thái không bị quấy nhiễu bởi hôn trầm hay trạo cữ -- thì ngươi sẽ hiểu được ý nghĩa của thực tại. Hãy nhớ trong tâm khẳng định từ kinh Kết Tập Pháp (Dharma-saṃgīti-Sūtra) :
Khi tâm thức ngươi trong trạng thái thăng bằng thiền, ngươi sẽ hiểu thực tại như nó là.
Phần thứ nhất Các Giai Tầng của Thiền có nêu : [478]
Vì tâm ngươi lưu chuyển như một dòng sông, nó không ngừng nghỉ nếu không có
một nền tảng về định từ thiền; một tâm thức mà không ở trong sự thăng bằng thiền thì không thể hiểu thực tại như nó là. Cũng vậy, Như-lai thuyết, “với sự thăng bằng thiền, ngươi tri kiến thực tại như nó là.”
Khi thành tựu trạng thái định, ngươi không chỉ ngừng sự sai sót của dịch chuyển trong ý thức trí tuệ quán chiếu lên vô ngã, mà ngươi còn ngừng cả sai sót của sự phân tán khỏi đối tượng thiền định mỗi khi dùng đến trí tuệ thấu suốt để tiến hành thiền quán lên các chủ đề như là vô thường, nghiệp và các hậu quả của nó, những sai sót của luân hồi, từ ái, bi mẫn, hay luyện tập về tinh thần của giác ngộ. Bất kể đối tượng của thiền là gì, ngươi tiến hành thiền không bị phân tán, nên công đức mà ngươi nuôi dưỡng sẽ mạnh mẽ hơn nhiều. Mặt khác, khi chưa đạt trạng thái định, ngươi làm suy giảm các đức hạnh cùa mình do sự phân tán thường xuyên vào các đối tượng khác. Như có nêu trong tác phẩm Nhập Bồ Đề Hành luận (Bodhicaryāvatāra), ngài Tịch Thiên có nêu :
Kẻ Tâm thức bị phân tán
Sống giữa nanh vuốt của các khổ đau.
Và :
Người thấy biết thực tại đã nói
Kẻ nguyện cầu, kẻ khổ hạnh và như là --
Ngay cả kẻ đã rèn luyện lâu ngày
Là chưa làm được gì nếu với một tâm phân tán.
Do đó, mục tiêu của việc thành tựu tập trung tư tưởng mà trong đó tâm thức ngươi đặt bền vững không rời rạc lên một đối tượng duy nhất mà không phân tán là để có sự khả dụng về tinh thần – tức là khả năng định hướng hoàn toàn theo ý muốn sự chú tâm của ngươi vào các đối tượng công đức của thiền. Nếu ngươi tập trung sự chú tâm một đối tượng thiền duy nhất, ngươi có thể lưu giữ ở đó, nhưng nếu ngươi thả lỏng nó, nó sẽ tiếp diễn như ý muốn đến các đối tượng công đức vô lượng như là nước đổ vào các dòng kênh tưới tiêu êm ả. [479] Do đó, sau khi ngươi đã đạt đươc trạng thái định từ thiền, ngươi phải duy trì trong các đối tượng và động thái thiền mà chúng ngưng được các sai sót vô hạn và đem lại được các công đức vô lượng, như là ý thức trí tuệ tập trung vào bản chất thật sự và sự phân hóa của các hiện tượng, bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, tín tâm, và sự tan biến các ảo ảnh của luân hồi. Hãy nhận ra rằng việc giữ bền tâm thức ngươi liên tục bằng cách gắn chặt nó vào một đối tượng thiền duy nhất sẽ không đem lại các lợi ích to tát nào trong việc thực hành công đức, nếu làm điều này mà không có nhận thức sâu sắc về mục tiêu của việc thành tựu trạng thái định.
Do vậy, nếu ngươi loại bỏ thiền quán với trí tuệ thấu suốt trong cả phương diện hành vi ba-la-mật-đa lẫn trong phương diện quan điểm về ba-la-mật-đa, thì việc nuôi dưỡng sự tập trung nhất tâm của ngươi sẽ rất yếu. Kỹ năng để tạo ra sự chắc chắn mạnh mẽ và lâu bền về ý nghĩa của vô ngã là sự quán chiếu được duy trì liên tục với trí tuệ thấu suốt. Thiếu một tuệ giác như thế lên bản chất thật sự, thì bất kể ngươi đã nuôi dưỡng định trong bao lâu, ngươi chỉ có thể ngăn sự hiển lộ của các đau khổ; ngươi không thể đào tận gốc rễ các hạt giống của chúng. Do vậy, không chỉ nuôi dưỡng định mà người cũng cần nuôi dưỡng tuệ giác vì như Liên Hoa Giới có đề cập trong phần thứ nhì trong Các Giai Tầng của Thiền :
Việc chỉ nuôi dưỡng định riêng lẽ không thoát khỏi các ngăn trở cho một hành giả; nó chỉ ngăn chận các khổ đau trong một thời gian. Ngoại trừ ngươi có ngọn đèn trí tuệ, ngươi không thể tiêu hủy các xu hướng tiềm tàng.
Vì lý do này mà Trang Nghiêm luận nêu :
Thăng bằng thiền ngăn chận các đau khổ; trí tuệ tiêu hủy các xu hướng tiềm tàng (Ở đây là các "tập khí nghiệp --ND).
Cũng thế, Chánh Định Vương Kinh (samādhirāja-sūtra) nêu :
Mặc dù các phàm phu nuôi dưỡng tập trung tinh thần
Họ không phá hủy được quan niệm về ngã.
Những phiền não của họ trở lại gây rối họ,
Uất-đà-la, như họ đã nuôi dưỡng tập trung tinh thần theo cách này .
Nếu ngươi phân biệt một cách có suy lý về sự thiếu vắng của ngã trong các pháp
Và nếu ngươi nuôi dưỡng quán chiếu này trong thiền
Thì sẽ tạo quả, đạt đến niết-bàn; [480]
Không có an lạc nào qua các phương tiện bất kì nào khác.
Bồ Tát Tạng Kinh (Bodhisattva-Piṭāka) cũng có nêu :
Những ai chưa tu học nội dung Bồ-tát Tạng Kinh, chưa tu học giới luật chánh pháp, và những ai suy diễn ý tưởng về một sự đầy đủ chỉ từ trong tập trung tinh thần sẽ rơi vào hiệu quả của niềm kiêu hãnh của họ trở thành một ý tưởng tự thổi phồng về chính mình. Họ sẽ không thoát khỏi sinh , lão, bệnh, tử, đau sót, than khóc, phiền não, bất hạnh, và rối loạn; họ sẽ không thoát khỏi sáu giới của luân hồi ; họ sẽ không thoát khỏi hợp uẩn của đau khổ. Với diều này trong tâm, Như Lai thuyết. “Tu học từ những người khác là thích đáng, ngươi sẽ thoát khỏi lão và tử.”
Như vậy, những ai tìm kiếm trí tuệ siêu việt thuần khiết viên mãn từ đó mọi ngăn trở đều bị xóa tan đều nên nuôi dưỡng trí tuệ trong lúc vẩn lưu giữ ở trạng thái định. Về điểm này, Bảo Tích Kinh bộ (Ratna-kūṭa-grantha) dạy rằng :
Trì giới, ngươi sẽ đạt được tập trung tinh thần;
Thành tựu được tập trung tinh thần, ngươi nuôi dưỡng trí tuệ;
Với trí tuệ ngươi thành tựu trí tuệ siêu việt thuần khiết;
Khi trí tuệ siêu việt của ngươi thuần khiết, thì việc giữ giới của ngươi là toàn hảo [tức là trì giới ba-la-mật-đa (ND)]
Và Kinh Đại Thừa Dưỡng Tín dạy rằng :
Thiện Nam Tử, nếu ngươi không có trí tuệ, ta sẽ không nói rằng người có tín tâm nơi Đại thừa của các bậc Bồ-tát, mà ta cũng không nói rằng ngươi biết bản chất thật sự nơi Đại thừa.
(e) Làm thế nào để đạt một cách chắc chắn về thứ tự của chúng
Trong Nhập Bồ-đề Hành luận, Tịch Thiên dạy :
Tuệ giác hiện hữu từ định
Tiêu hủy các khổ đau
Hãy tìm định từ đầu.
Theo khẳng định này, trước tiên ngươi thành tựu định từ thiền và tiếp sau nuôi dưỡng trí tuệ trên cơ sở đó. [481]
Vấn: Trong phần thứ nhất Các Giai Tầng của Thiền , Ngài Liên Hoa Giới nói: “đối tượng của nó về thiền thì không xác định”, nghĩa là đối tượng thiền của định từ thiền là không xác định. Như đã giải thích trên, đối tượng thiền của định từ thiền có thể là tự chính thực tại hay một hiện tượng thông thường hiện hữu trong thực tại. Nếu ngươi hiểu biết trước tiên ý nghĩa của vô ngã, thì điều đó cũng đủ để đồng thời sinh ra cả trạng thái định của một tâm thức không phân tán và trí tuệ tập trung vào tính không. Tại sao lại nói rằng ngươi trước tiên phải tìm kiếm trạng thái định rồi mới nuôi dưỡng tuệ giác?
Đáp: Cách thức mà trong đó định đi trước tuệ là như sau. Ngươi không cần có định để tuần tự phát triển một hiểu biết về quan điểm thấy biết rằng ngã không hiện hữu, chúng ta đều thấy được rằng ngay cả những ai chưa đạt định cũng có thể phát triển quan điểm này. Ngươi cũng không cần đạt định từ trước để trải nghiệm sự chuyển hóa tinh thần trong sự chú trọng đến quan điểm này; không có gì ngăn cản sự chuyển hóa tinh thần mang tới từ việc tu tập về quán chiếu thuần thục bằng trí tuệ thấu suốt, ngay cả khi không có mặt trạng thái định. Nếu ngươi cho rằng sự vắng mặt của định ngăn trở sự chuyển hóa tinh thần trong sự chú trọng đến quan điểm này, thì cũng chính lập luận này buộc ngươi kết luận một cách cực kỳ vô lý rằng trạng thái định đòi hỏi ngay cả trải nghiệm về sự chuyển hóa tinh thần khi thiền về tính vô thường, tức là các sai sót của luân hồi, hay về tinh thần giác ngộ.
Vậy thì tại sao định lực cần thiết cho tuệ giác? Theo Trang Nghiêm Luận tụng , thì chừng nào việc tu tập về sự phân biệt và sự phân biệt đặc thù cùng với trí tuệ thấu suốt không thể khởi tạo được được sự nhu hoạt về tinh thần và thể chất thì nó cấu thành một loại chú tâm mà tiếp cận đến tuệ giác; một khi nó khởi tạo sự nhu hoạt thì nó trở thành tuệ giác. Do vậy, nếu ngươi chưa đạt tới định, thì bất kể ngươi thiền quán bao nhiêu với trí tuệ thấu suốt, kết cuộc ngươi sẽ không thể khởi tạo được niềm khoái cảm và hỉ lạc của sự nhu hoạt tinh thần và thể chất. Một khi ngươi có được định từ thiền, thì ngay cả thiền quán về trí tuệ phân tích sẽ đạt đến nhu hoạt tột độ. Do đó, trí tuệ đòi hỏi trạng thái định từ thiền như là một nguyên nhân. Điều này sẽ được giải thích như sau.
Trí tuệ thấu suốt trở thành tuệ giác khi không có sự chú tâm lên một đối tượng đơn nhất, nó vẩn có thể khởi tạo sự nhu hoạt thông qua năng lực của phân tích. Vậy nên việc khởi tạo sự nhu hoạt qua việc đặt chú tâm của ngươi lên một đối tượng duy nhất của thiền – ngay cả khi đối tượng đó là tính không – thì không có con đường nào khác hơn là thành tựu định. Tại sao? Bởi nếu ngươi khởi tìm kiếm một hiểu biết về vô ngã trước, tức là việc phân tích ý nghĩa của nó lập lại nhiều lần, thì sẽ không thể nào thành tựu được định trên cơ sở phân tích về điều này vì ngươi chưa hề đạt tới trạng thái định trước đó. Nếu ngươi tiến hành thiền định mà không có quán, ngươi sẽ thành tựu định trên cơ sở đó. Dù sao, vì không có cách nào để duy trì tuệ giác ngoại trừ qua việc duy trì định, nên ngươi phải tìm kiếm tuệ giác sau đó. Do vậy, điều này không rơi ra ngoài dạng thức mà trong đó, tìm kiếm định trước, rồi dựa trên đó nuôi dưỡng tuệ giác.
Theo đó, cách thức mà tuệ giác phát triển là sự thiền quán thấu suốt tạo ra nhu hoạt. Nếu điều này không như thế, thì sẽ khống có lý do nào để tìm kiếm định trước và tiếp sau nuôi dưỡng tuệ giác dựa trên đó. Việc thất bại tiến hành thiền theo các trình tự này thì không mấy thích đáng vì Trang Nghiêm Luận tụng khẳng định trong một đoạn đã trích dẫn bên trên rằng các ngươi nuôi dưỡng tuệ giác trên cơ sở đã đạt được định. Cũng thế, thứ tự của thiền định và trí tuệ trong lục độ ba-la-mật-đa – mà trong đó dạy rằng “phẩm tính sau phát triển dựa trên phẩm tính trước đó” – cũng như là dãy thứ tự trong việc rèn luyện trí tuệ bậc cao hơn dựa trên việc rèn luyện tập trung tư tưởng cao hơn là tương hợp với dãy thứ tự trong đó ngươi nuôi dưỡng định trước và sau đó nuôi dưỡng tuệ giác. Trong Bồ-tát Địa (đã trích trước đây) và Thanh Văn địa (Śrāvaka- bhūmi) của ngài Vô Trước cho thấy tuệ giác được nuôi dưỡng trước trên cơ sở của định từ thiền. Cũng thế trong các tác phẩm “Trung Đạo Tâm luận” của Thanh Biện, “Nhập Bồ Đề Hành luận” của Tịch Thiên, và phần thứ ba trong “Các Giai Trình của Thiền Định”, “Tuệ Xưng” (jñāna-kīrti -ND) , “Bảo Tích Tịnh” (Ratnakaraśānti - ND) của Liên Hoa Giới, tất cả đều khẳng định rằng ngươi nuôi dưỡng tuệ giác sau khi đã tìm kiếm được định lực trước đó. Một số đại sư Ấn-độ cho rằng không cần tìm định riêng rẻ, ngươi khởi tạo tuệ giác ngay từ khi bắt đầu thông qua quán chiếu bởi trí tuệ thấu suốt. Vì quan điểm này mâu thuẩn với các kinh luận của những bậc đi tiên phong, nên kẻ khôn ngoan sẽ thấy rằng nó là điều không tin tưởng được.
Đây là thứ tự khi ngươi vừa mới phát triển định và tuệ lần đầu; sau này thì không xác định thứ tự thế nữa, ngươi có thể nuôi dưỡng định sau việc phát triển tuệ giác trước đó.
Vấn: Trong Vi diệu Pháp Tập Luận ngài Vô Trước có dạy “một số thành tựu tuệ giác, nhưng lại không đạt được định; họ phấn đấu để đạt định từ trên cơ sở của tuệ giác.” Ngài giải thích điều này như thế nào?
Điều này có nghĩa là họ chưa thành tựu định của trình độ ổn định thiền đầu tiên, hay các trình độ cao hơn; điều đó không loại trừ việc họ đã đạt tới định mà được bao hàm trong việc truy cập đến trình độ bình ổn thiền đầu tiên . Cũng thế, một khi ngươi có tri kiến nhận thức về Tứ Diệu Đế , ngươi có thể thiết lập trên cơ sở đó định lực về trình độ bình ổn thiền đầu tiên thật sự và những bình ổn thiền cao hơn. Ngài Vô Trước có dạy trong Du-già Sư Địa luận (Yogācāra-bhūmi) :
Ngoài ra, ngươi có thể biết một cách chính xác thực tại về các chân lý này từ Khổ cho đến Đạo, mà chưa thành tựu được trình độ bình ổn thiền đầu tiên, vân vân. Vừa lúc tri kiến về các chân lý này xảy đến, ngươi bình ổn tâm mình và không phân tích các pháp. Trên cơ sở trí tuệ cao hơn này, ngươi mưu cầu tu tập các trạng thái cao hơn của ý thức.
Nói chung, nhằm lợi ích cho việc hiểu biết toàn diện các thuật ngữ, có chín trạng thái tinh thần được gọi là định từ thiền và bốn lớp quán chiếu được gọi là tuệ giác. Dù sao, ngươi phải áp dụng các thuật ngữ “định thật sự” và “tuệ giác thật sự” – như là sẽ được giải thích – sau khi phát khởi về sự nhu hoạt.
----------Hết chương 1 ---------------
Tham Khảo:
• Kinh Giải Thâm Mật http://www.buddhismtoday.com/viet/kinh/ ... ammat2.htm (access May 16 2009. Đạo Phật Ngày nay 2000)
